- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lạm dụng tín dụng chiếm đoạt tài sản - Hoàng Lưu N - phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (điều 175 Luật sửa đổi, bổ sung một số đ…"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…; Luật Phí và lệ phí
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 233/2024/HSST Ngày: 24/12/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Hoài Phương
Các hội thẩm nhân dân: Ông Phùng Ngọc Toàn
Ông Nguyễn Hà
Thư ký ghi biên bản phiên toà: Ông Hoàng Đức Huy - Thư ký Tòa án nhân dân quận Ba Đình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phượng - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 12 năm 2024, Toà án nhân dân quận Ba Đình - thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 212/2024/TLST-HS ngày 14 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo: Hoàng Lưu N; Sinh năm: 1988; HKTT: B1, xã Q, huyện P, tỉnh S; Nơi ở: Số C phố L, phường N, quận B, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Văn hóa: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: T; Tôn giáo: Không; Họ và tên bố: Hoàng Đình S (Đã chết); Họ và tên mẹ: Sòi Thị N1, sinh năm: 1967; Gia đình bị cáo có 02 anh chị em, bị cáo là con thứ nhất; Vợ: Cầm Thị H sinh năm: 1989; Bị cáo có 01 con 04 tuổi; Danh chỉ bản số 194 lập ngày 10/05/2024 tại Công an quận Ba Đình.
Nhân thân: Chưa tiền án, tiền sự
Bị cáo bị bắt khẩn cấp ngày 10/05/2024, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 1 – Công an Thành phố Hà Nội. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa)
* Người bị hại: Chị Nguyễn Thị L (sinh năm 1986, KHTT: P, phường P, quận H, Hà Nội) là chủ cửa hàng kinh doanh đồ thờ Đ địa chỉ số C phố L, phường N, quận B, thành phố Hà Nội. (Chị L có mặt tại phiên tòa).
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Anh Đỗ Hoàng T, sinh năm: 1994; HKTT: TDP C, phường Q, thành phố S, tỉnh T1. (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
2. Chị Hà Thị P, sinh năm: 1986; HKTT: Phố P, xã T, B, H. Nơi ở: Thôn C, T, B, H.
(Có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hoàng Lưu N làm nhân viên bán hàng thuê cho chị Nguyễn Thị L là chủ cửa hàng kinh doanh đồ thờ Đ đia chỉ số C phố L, phường N, quận B, Hà Nội, từ khoảng cuối năm 2021 với mức lương 8.000.000đồng/tháng (không có hợp đồng lao động), N ăn ngủ tại cửa hàng. Lợi dụng việc chị L tin tưởng giao cho N quản lý trông coi, bán hàng cho khách, mặt hàng nào bán hết, N sẽ báo chị L nhập hàng. Thấy chị L quản lý cửa hàng lỏng lẻo, không có sổ thu chi, không kiếm kê hàng hóa nên N nảy sinh ý định chiếm đoạt hàng hóa của chị L bán lấy tiền. N tạo tài khoản Facebook tên "Đồ Thờ PL", chụp ảnh hàng hóa của chị L, đăng các bài viết rao bán với giá thấp hơn 40% so với giá của cửa hàng. Khi có khách đặt mua, N lấy hàng từ trên kho hoặc giá trưng bày cất tại tủ quần áo hoặc giường ngủ dưới tầng hầm nơi N ở. Khoảng 5h - 6h sáng, N mang hàng ra khỏi cửa hàng rồi thuê người vận chuyển đến cho khách hoặc trực tiếp gửi xe khách đến địa chỉ khách yêu cầu. Tiền khách thanh toán, sẽ được chuyển đến tài khoản Ngân hàng MBBank số 3180179229999 của N. Trong khoảng thời gian từ khoảng cuối năm 2023 đến ngày 09/05/2024, N đã chiếm đoạt nhiều tài sản là hàng hóa tại cửa hàng của chị L, cụ thể như sau:
Từ ngày 21/01/2024 đến ngày 09/05/2024, N nhiều lần chiếm đoạt tài sản của chị L, tự vận chuyển hoặc thuê người chở ra bến xe giáp bát gửi về Thanh Hóa cho anh Đỗ Hoàng T. Anh T đã mua nhiều mặt hàng của N và đã thanh toán cho N tổng số tiền 44.800.000 đồng bằng hình thức chuyển khoản ngân hàng. Toàn bộ số tiền này N đã tiêu sài hết. Đến ngày 10/05/2024, khi được Công an quận Ba Đình thông báo, anh T đã giao nộp lại các tài sản mua từ N nhưng chưa bán được. Đối với số tài sản anh T đã bán, đều bán cho khách không rõ nhân thân. Do vậy, Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh, thu hồi.
Tài sản N đã bán cho anh Đỗ Hoàng T theo Kết luận định giá tài sản số 57/KLĐG - HĐĐGTS ngày 21/9/2024 có trị giá như sau:
"- 01 bộ đồ sứ vẽ vàng, xuất xứ Bát Tràng, gồm: 01 bát hương sứ, đường kính 16cm; 01 mâm bồng sứ, đường kính 22cm; 01 bộ kỳ chén sứ 3 chén; 02 chóe sứ, cao 18cm; 01 nậm rượu sứ; cao 18cm; 01 đèn dầu sứ, cao 15cm; 02 lọ hoa sứ, cao 23cm. Tổng trị giá là 2.620.000 đồng.
- 10 bộ sứ đầy đủ, xuất xứ Trung Quốc, gồm: 10 bát hương sứ, đường kính 16cm; 10 đĩa bồng sứ, đường kính 22cm; 10 lọ hoa sứ, cao 18cm; 10 ống hướng sứ, cao 18cm; 10 bộ kỳ chén 3; 30 chóe sứ, cao 15cm. Trị giá là 1.500.000 đồng/ 1 bộ, tổng trị giá 10 bộ là 15.000.000 đông.
- 02 đôi đèn 5 bông, cao 65cm, xuất xứ Trung Quốc. Trị giá là 1.500.000 đồng/ 1 bộ, tổng trị giá 02 bộ là 3.000.000 đồng.
- 01 đôi đèn 7 bông, cao 75cm, xuất xứ Trung Quốc. Trị giá là 2.500.000đồng.
- 02 bình sứ hút lộc, cao 18cm, xuất xứ Bát Tràng. Có trị giá là 350.000 đồng/
1 bộ, tổng trị giá 02 bộ là 700.000 đồng.
- 01 tượng phật Di Lạc, chất liệu bộ đá, đường kính 22 cm, xuất xứ Trung Quốc. Trị giá là 3.000.000 đồng.
- 01 bộ tượng Tài Địa Phát, gồm 03 tượng sứ, cao 18cm, xuất xứ Trung Quốc. Trị giá là 1.500.000 đồng.
- 01 tượng Phật Bà, chất liệu bột đá, cao 30cm, xuất xứ Trung Quốc. Trị giá là 2.000.000 đồng.
- 01 bát Tụ Bảo, chất liệu đá, đường kính 10cm, xuất xứ Trung Quốc. Trị giá là 380.000 đồng.
- 01 tượng Cóc Đá, chất liệu đá, cao 12cm, xuất xứ Trung Quốc. Trị giá là 170.000 đồng.
- 01 bài vị nhựa, gắn đèn Led, kích thước 30x40cm, không rõ xuất xứ. Trị giá là 550.000 đồng.
- 01 chum sứ, vẽ vàng, cao 12cm, xuất Bát Tràng. Trị giá là 250.000 đồng.
- 01 tượng phật Di Lặc, bột đá màu vàng, cao 40cm, rộng 30cm, xuất xứ Bát Tràng. Trị giá là 3.500.000 đồng.
- 01 bình hút lộc, sứ màu xanh, cao 30cm, xuất xứ Trung Quốc. Trị giá là 680.000 đồng.
- 01 bộ Ngũ Sự, chất liệu đồng, màu nâu, xuất xứ Việt Nam, gồm: 01 đỉnh đồng, cao 65cm; 02 chân nến đồng, cao 55cm; 02 hạc đồng, cao 55 cm. Trị giá là 8.200.000 đồng.
- 01 bộ sứ men rạn, vẽ vàng, xuất xứ Bát Tràng, gồm: 01 bát hương sứ, đường kính 16cm; 01 mâm bồng, đường kính 22 cm; 01 bộ kỳ chén sứ 3 chén; 02 chóe sứ, cao 12cm; 01 nậm rượu sứ, cao 18cm; 01 ống hương sứ, cao 20cm; 01 lọ hoa sứ, cao 23cm. Trị giá là 8.000.000 đồng.
- 03 đôi đèn 5 bông, cao 65cm, không rõ xuất xứ. Trị giá là 1.500.000 đồng/ 1 bộ, tổng trị giá 03 đôi là là 4.500.000 đồng.
- 01 bộ sứ xanh, xuất xứ Bát Tràng, gồm: 01 bát hương sứ, đường kính 16cm; 01 mâm bồng, đường kính 22cm; 01 bộ kỳ chén sứ 3 chén; 02 chóe sứ, cao 12 cm; 01 nậm rượu sứ, cao 18cm; 01 ống hương sứ, cao 20cm; 01 lọ hoa sứ, cao 23 cm. Trị giá là 1.600.000 đồng.
- 02 bộ sứ men lam, xuất xứ Bát Tràng, gồm: 02 bát hương sứ, đường kính 16cm; 01 mâm bồng sứ, đường kính 22cm; 02 lọ hoa sứ, cao 18cm; 02 ống hương sứ, cao 18cm; 02 bộ kỳ chén 3; 06 chóe sứ, cao 12cm. Trị giá là 1.600.000 đồng/ 1 bộ, tổng giá trị 02 bộ là là 3.200.000 đồng.
- 02 bộ sứ, xuất xứ Đài Loan, gồm: 02 bát hương sứ, đường kính 16cm; 01 mâm bồng sứ, đường kính 22cm; 02 lọ hoa sứ, cao 18cm; 02 ống hương sứ, cao 18cm; 02 bộ kỳ chén 3; 06 chóe sứ, cao 12cm. Trị giá là 1.500.000 đồng/ 1 bộ, tổng giá trị 02 bộ là 3.000.000 đồng.
- 01 đôi đèn, 3 bông, không rõ xuất xứ. Trị giá là 800.000 đồng.
- 01 đôi đèn chóp, cao là 25 cm, không rõ xuất xứ. Trị giá là 1.100.000 đồng.
- 02 bài vị nhựa, gắn đèn Led, kích thước 30x40cm, không rõ xuất xứ. Trị giá là 550.000 đồng/ 1 bộ, tổng trị giá 02 bộ là 1.100.000 đồng.
- 08 đôi đèn, không rõ xuất xứ, gồm: 01 đôi đèn 5 bông, cao 70cm; 01 đôi đèn 5 bông, cao 65cm; 01 đôi đèn 5 bông, cao 75cm; 01 đội đèn 5 bông, cao 85cm; 01 đôi đèn 3 bông, cao 40cm; 01 đôi đèn chóp, cao 30cm; 01 đôi đèn tay phật, cao 25cm; 01 đôi đèn 7 bông, cao 90cm. Tổng giá trị 08 đôi đèn là là 9.100.000 đồng.
- 1 bộ Ngũ Sự, chất liệu đồng, màu nâu, xuất xứ Việt Nam, gồm: 01 đỉnh đồng. cao 65cm; 02 chân nến đồng, cao 55cm; 02 hạc đồng, cao 55cm. Trị giá là 8.200.000 đồng.
- 03 bộ tượng Tài Địa, xuất xứ Trung Quốc, gồm: 09 tượng, chất liệu bột đá, màu xanh - vàng - đỏ, cao 25cm. Trị giá là 1.000.000 đồng/ 1 tượng, tổng giá trị 09 tượng là là 9.000.000 đồng.
- 01 tượng Phật Quan Âm, chất liệu bột đá, cao 30cm, xuất xứ Trung Quốc. Trị giá là 2.000.000 đồng.
- 01 tượng Phật Quân Âm, chất liệu sứ, cao 20cm, xuất xứ Trung Quốc. Trị giá là 400.000 đồng.
- 01 bộ tượng Tam Đa, chất liệu sứ, xuất xứ Trung Quốc, gồm: 03 tượng sứ, cao 40cm. Trị giá là 1.200.000 đồng.
- 01 tượng Thiên Hậu Thánh Mẫu, chất liệu nhựa, cao 40cm, xuất xứ Trung Quốc. Trị giá là 2.000.000 đồng.
- 01 bộ sen đồng, xuất xứ Việt Nam, gồm: 10 cành sen, chất liệu đồng, màu vàng, cao 50cm. Trị giá là 1.500.000 đồng.
- 03 bộ sứ, xuất xứ Đài Loan, gồm: 03 bát hương sứ, đường kính 16cm; 03 đĩa bồng sứ, đường kính 22cm; 03 lọ hoa sứ, cao 18cm; 03 ống hướng sứ, cao 18cm; 03 bộ kỳ chén 3; 09 chóe sứ, cao 15cm. Trị giá là 1.500.000 đồng/ 1 bộ, tổng giá trị 03 bô là 4.500.000 đồng:
- 05 bát Tụ Bảo, chất liệu đá, màu vàng, xuất xứ Trung Quốc, gồm: 03 bộ đường kính 13cm và 02 bộ đường kính 16cm. Trị giá là 540.000 đồng/ 1 bộ, tổng giá trị 05 bộ là 2.700.000 đồng.
- 02 đôi tượng voi, chất liệu nhựa, cao 20cm, xuất xứ Trung Quốc. Trị giá là 1.300.000 đồng/ 1 đôi, tổng giá trị 02 đôi là 2.600.000 đồng.
- 02 đôi đèn 5 bông, cao 55cm, không rõ xuất xứ. Trị giá là 800.000 đồng/ 1 đôi, tổng giá trị 02 đôi là 1.600.000 đồng.
- 01 bộ chuông và mõ, xuất xứ Đài Loan. Trị giá là 1.500.000 đồng.
- 02 đôi đèn 3 bông, cao 40cm, không rõ xuất xứ. Trị giá là 800.000 đồng/ 1 đôi, tổng giá trị 02 đôi là 1.600.000 đồng.
- 06 tượng Cóc, chất liệu bột đá (03 tượng màu đỏ, 02 tường màu xanh và 01 tượng màu trắng), cao là 15 - 20cm, xuất xứ Trung Quốc. Trị giá là 500.000 đồng/ 1 tượng, tổng giá trị 06 tượng là 3.000.000 đồng.
- 06 tượng Tỳ Hưu, chất liệu bộ đá (03 tượng màu đỏ, 02 tượng màu xanh và 01 tượng màu trắng), cao là 15 – 20cm, xuất xứ Trung Quốc. Trị giá là 500.000 đồng/ 1 tượng, tổng giá trị 06 tượng là 3.000.000 đồng".
Ngày 21/01/2024, N đã bán 01 chiếc bàn thờ gỗ hương, kích thước 107x61cm, cho anh Lý Anh P (sinh năm 1993, HKTT: Phố L, phường B, quận T, Hà Nội) với giá 1.800.000đồng. N đã tiêu sài hết số tiền này. Đối với tài sản mua từ N, anh P đã bán, không còn giữ thông tin liên lạc của người mua. Theo kết luận dịnh giá: "01 chiếc bàn thờ, gỗ hương, kích thước 107x61cm, xuất xứ Việt Nam. Trị giá là 1.250.000 đồng".
Ngày 19/01/2024, N đá bán 01 đôi đèn 5 bông và 01 tranh trúc, cho chị Phạm Thị N2 (sinh năm 1991; HKTT: Cụm 4, xã T, Đ, Hà Nội) với giá 1.350.000 đồng. N đã tiêu sài hết số tiền này. Đối với số tài sản mua từ N, chị N2 đang sử dụng để thờ cúng nên Cơ quan điều tra không thu hồi. Theo kết luận định giá: "01 đôi đèn 5 bông, cao 60cm và 01 tranh trúc chỉ tròn, đường kính 30cm, không rõ xuất xứ. Trị giá là 2.000.000 đồng".
Ngày 23/02/2024, N đã bán các tài sản gồm: 01 bàn thờ Thần Tài, chất liệu gỗ sồi; 01 chân đế, chất liệu đỗ sồi; 01 bậc tam cấp, chất liệu gỗ sồi; 03 tượng Thần Tài, chất liệu bột đá, màu vàng; 01 bô sứ vàng kim sa Đài Loan; 02 tượng cóc, chất liệu bột đá màu vàng; 01 bát sứ thả hoa màu vàng cho chị Đỗ Thị Thu H1 (sinh năm 1993 HKTT: Thôn P, Đ, S, Hà Nội) với giá 3.600.000đồng. N đã tiêu sài hết số tiền này. Đối với số tài sản mua từ N, chị H1 đang sử dụng để thờ cúng nên Cơ quan điều tra không thu hồi. Theo kết luận định giá:
"- 01 bàn thờ Thần Tài, chất liệu gỗ sồi, kích thước mặt ngang 48cm, xuất xử Việt Nam; 01 chân để, chất liệu đỗ sồi, kích thước 90x90cm; 01 bậc tam cấp, chất liệu gỗ sồi, kích thước ngang 18cm. Tổng trị giá là 6.000.000 đồng.
- 03 tượng Thần Tài, chất liệu bột đá, màu vàng, cao 20cm, xuất xứ Việt Nam. Trị giá là 1.250.000 đồng.
- 01 bô sứ vàng kim sa, xuất xứ Đài Loan, gồm: 01 bát hương sử, đường kính 18cm; 01 ổng hương sứ, cao 20cm; 01 lọ hoa sứ, cao 23cm; 01 đĩa bồng sứ, đường kính 22cm; 01 bộ kỳ chén 3; 01 bộ ấm chén sứ; 01 nậm rượu sứ. Trị giá là 1.700.000 đồng.
- 02 tượng cóc, chất liệu bột đá, màu vàng, cao 12cm, xuất xứ Trung Quốc. Trị giá là 1.100.000 đồng.
- 01 bát sử thả hoa, màu vàng, đường kính 22cm, xuất xứ Bát Tràng. Trị giá là 340.000 đồng
Ngày 04/05/2024, N đã bán các tài sản gồm: 01 bộ tam sự, chất liệu đồng, màu vàng; 01 tượng Quan Vũ, chất liệu đồng, màu vàng; 01 bộ đồ thờ, chất liệu đồng, màu vàng, cho chị Hà Thị P (sinh năm 1986, HKTT: Thôn Cao Xá, T Hòa, Bình Giang, Hải Dương) với giá 2.500.000 đồng. N đã tiêu sài hết số tiền này. Khi được Công an quận Ba Đình thông báo, chị P đã tự nguyện giao nộp số tài sản trên cho Cơ quan điều tra. Theo kết luận định giá tài sản:
“- 01 bộ tam sự, chất liệu đồng, màu vàng, xuất xứ Việt Nam, gồm: 01 đỉnh đồng, cao 45cm; 02 chân nến đồng, cao 40cm. Trị giá là 3.000.000 đồng.
- 01 tượng Quan Vũ, chất liệu đồng, màu vàng, cao 40cm, xuất xứ Việt Nam. Trị giá là 3.000.000 đồng.
- 01 bộ đồ thờ, chất liệu đồng, màu vàng, xuất xứ Việt Nam, gồm: 01 bát hương đông, đường kính 16cm; 01 mâm bồng đông, đường kính 24cm; 01 lọ loa đồng, cao 30cm; 01 ống hương đồng, cao 25cm; 01 bộ kỳ chén đồng 3; 02 chóe đồng, cao 18cm. Trị giá là 6.000.000 đồng"
Đến này 08/05/2024, N chuyển một số đồ thờ của chị L từ tầng 1 của cửa hàng xuống tầng hầm, mục đích để chụp ảnh đăng lên tài khoản Facbook tên Đồ Thờ PL. Tuy nhiên, chưa thực hiện được hành vi thì đến ngày 09/05/2024, chị L kiểm tra hàng hóa thì phát hiện bị thiếu hàng. Chị L nghi ngờ N chiếm đoạt tài sản, nên đã trình báo sự việc đến cơ quan Công an. Cùng ngày, Cơ quan điều tra đã triệu tập N về trụ sở để làm việc.
Tổng giá trị tài sản N chiếm đoạt của chị Nguyễn Thị L có trị giá 144.410.000 đồng (Một trăm bốn mươi bốn triệu bốn trăm mười nghìn đồng)
* Vật chứng thu giữ:
Tạm giữ của Hoàng Lưu N:
- 01 chiếc điện thoại iPhone 12 Pro, màu vàng, số Imeil: 354957733324266; Imei2: 354957733469376, gắn sim số 097.564.2343 (đã qua sử dụng). Qua kiểm tra phát hiện đang đăng nhập tài khoản Facebook "Đồ Thờ PL" và có nhiều tin nhắn liên quan đến hành vi chiếm đoạt tài sản của chị Nguyễn Thị L.
- 01 chiếc điện thoại Samsung Galaxy Note 20, màu vàng đồng, số Imei1: 350247874358909, số Imei2: 353791664358907, gắn sim số 0344.874.819 (đã qua sử dụng), là tài sản của chị L.
Tạm giữ của anh Đỗ Hoàng T:
- 05 đôi đèn thờ gồm loại 01 bông, 03 bông và 5 bông.
- 02 bộ ngũ sự, bằng đồng, màu nâu và màu vàng.
- 04 tượng cóc kỳ, màu đỏ và mày lưu ly.
- 02 tượng thần tài, màu vàng.
- 03 bộ sứ, Đài Loan, gồm: 03 bát hương sứ, đường kính 16cm; 03 đĩa bồng sứ, đường kính 22cm; 03 lọ hoa sứ, cao 18cm; 03 ống hướng sứ, cao 18cm; 03 bộ kỷ chén 3; 09 chóe sứ, cao 15cm.
- 05 bát Tụ Bảo, chất liệu đá, màu vàng, gồm: 03 bộ đường kính 13cm và 02 bộ đường kính 16cm.
- 02 đôi tượng voi, chất liệu nhựa, cao 20cm.
- 02 đôi đèn 5 bông, cao 55 cm.
- 01 bộ chuông và mõ, Đài Loan.
- 02 đôi đèn 3 bông, cao 40 cm.
- 06 tượng Cóc, chất liệu bột đá (03 tượng màu đỏ, 02 tượng màu xanh và 01 tượng màu trắng), cao khoảng 15 - 20cm.
- 06 tượng Tỳ Hưu, chất liệu bộ đá (03 tượng màu đỏ, 02 tượng màu xanh và 01 tượng màu trắng), cao khoảng 15 - 20cm.
Tạm giữ của chị Hà Thị P:
- 01 bộ tam sự, chất liệu đồng, màu vàng, gồm: 01 đinh đồng, cao 45cm; 02 chân nến đồng, cao 40cm.
- 01 tượng Quan Vũ, chất liệu đồng, màu vàng, cao 40cm.
- 01 bộ đồ thờ, chất liệu đồng, màu vàng, gồm: 01 bát hương đồng, đường kính 16cm; 01 mâm bồng đồng, đường kính 24cm; 01 lọ loa đồng, cao 30cm; 01 ống hương đồng, cao 25cm; 01 bộ kỳ chén đồng 3; 02 chóe đồng, cao 18cm
Tại Cơ quan điều tra, Hoàng Lưu N đã khai nhận hành vi phạm tội như nội dung nêu trên. Lời khai nhận của N phù hợp lời khai của người bị hại, lời khai người làm chứng, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác trong quá trình điều tra.
Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã trả lại toàn bộ tài sản mà N chiếm đoạt (đã thu hồi được) cho chị Nguyễn Thị L, chị L đã nhận tài sản và yêu cầu bồi thường 100.000.000 đồng đối với những tài sản không thu hồi được.
Tại cáo trạng số 217/QĐ-VKS ngày 14/11/2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình truy tố bị cáo Hoàng Lưu N về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 175 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa: Bị cáo đã khai nhận tội như đã khai tại cơ quan điều tra, Bị cáo thừa nhận bản cáo trạng truy bố bị cáo đúng với hành vi bị cáo đã thực hiện.
Chị Nguyễn Thị L yêu cầu bồi thường 100.000.000 đồng đối với những tài sản không thu hồi được, bị cáo Hoàng Lưu N đồng ý.
Đại diện Viện Kiểm Sát tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 2 Điều 175; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Đề nghị xử phạt bị cáo Hoàng Lưu N mức án 05 (Năm) đến 06 (Sáu) năm tù; Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo;
Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng:
- Buộc bị cáo phải bồi thường thiệt hại cho chị Nguyễn Thị L số tiền 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng).
- Trả lại cho chị L 01 chiếc điện thoại Samsung Galaxy Note 20, màu vàng đồng, số Imei1: 350247874358909, số Imei2: 353791664358907, gắn sim số 0344.874.819 (đã qua sử dụng).
Tịch thu sung quỹ Nhà nước của bị cáo 01 (một) điện thoại Iphone 12 Pro, màu vàng, số imeil: 354957733324266, imeil2: 354957733469376, gắn số sim: 0975642343 (đã qua sử dụng).
Bị cáo không tranh luận gì với kết luận của đại diện Viện kiểm sát về tội danh và mức hình phạt.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo Hoàng Lưu N nhận thấy hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản của bị cáo mục đích để tiêu xài cá nhân là vi phạm pháp luật nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của bị cáo, người bị hại.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an quận Ba Đình, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự; Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Hoàng Lưu N không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng; Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và phù hợp với vật chứng đã thu giữ, phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng cùng các tài liệu điều tra khác có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở kết luận: Hoàng Lưu N được chị Nguyễn Thị L thuê, giao nhiệm vụ quản lý và bán hàng tại cửa hàng kinh doanh đồ thờ Đ địa chỉ số C phố L, phường N, quận B, thành phố Hà Nội. Trong khoảng thời gian từ ngày 19/01/2024 đế ngày 09/05/2024, N lợi dụng sự quản lý lỏng lẻo và lòng tin của chị L nên đã lấy tài sản tại cửa hàng của chị L đi bán kiếm lời. Tổng giá trị tài sản của Hoàng Lưu N chiếm đoạt của chị Nguyễn Thị L là 144.410.000 đồng.
. Viện kiểm sát truy tố bị cáo Hoàng Lưu N về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo điểm c khoản 2 Điều 175 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.
. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã cố ý trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, xâm phạm trật tự công cộng, gây mất trật tự trị an xã hội, mặc dù biết rõ vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn lợi dụng sự tin tưởng của bị hại đã nhiều lần, liên tục và trong thời gian dài để thực hiện hành vi lấy tài sản để bán lấy tiền tiêu xài sử dụng cá nhân do đó cần thiết xét xử bị cáo nghiêm minh đối với bị cáo.
. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.
. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tại phiên tòa và tại cơ quan điều tra bị cáo khai báo thành khẩn, lần đầu phạm tội đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân người phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải áp dụng một mức hình phạt nghiêm khắc, cách ly đối với bị cáo Hoàng Lưu N khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới đủ điều kiện để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội và có tác dụng răn đe, giáo dục, phòng ngừa tội phạm chung.
. Về hình phạt bổ sung:
Bị cáo là người không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định nên thấy cần miễn hình phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo.
. Về trách nhiệm dân sự:
- Anh Đỗ Hoàng T không yêu cầu gì về dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Buộc bị cáo Hoàng Lưu N phải bồi thường thiệt hại cho chị Nguyễn Thị L số tiền 100.000.000đồng (Một trăm triệu đồng).
- Buộc bị cáo Hoàng Lưu N phải bồi thường thiệt hại cho chị Hà Thị P số tiền 2.500.000 đồng (Hai triệu năm trăm nghìn đồng).
. Về xử lý vật chứng:
- Trả lại cho chị L 01 chiếc điện thoại Samsung Galaxy Note 20, màu vàng đồng, số Imei1: 350247874358909, số Imei2: 353791664358907, gắn sim số 0344.874.819 (đã qua sử dụng).
Tịch thu sung quỹ Nhà nước của bị cáo 01 (một) điện thoại Iphone 12 Pro, màu vàng, số imeil: 354957733324266, imeil2: 354957733469376, gắn số sim: 0975642343(đã qua sử dụng).
. Về án phí:
Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 5.125.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
. Về quyền kháng cáo:
Bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
[1]. Căn cứ vào:
- điểm c khoản 2 Điều 175; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015;
- Điều 106; Điều 136 ; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;
- Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015;
- Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
[2]. Xử phạt: Bị cáo Hoàng Lưu N 04 (Bốn) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Lạm dụng tín dụng chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn từ tính từ ngày 10/05/2024. Bị cáo là người không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định nên thấy cần miễn hình phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo. [3]. Về trách nhiệm dân sự:
- Anh Đỗ Hoàng T không yêu cầu gì về dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Buộc Hoàng Lưu N phải bồi thường thiệt hại cho chị Nguyễn Thị L số tiền 100.000.000đồng (Một trăm triệu đồng).
- Buộc Hoàng Lưu N phải bồi thường thiệt hại cho chị Hà Thị P số tiền 2.500.000 đồng (Hai triệu năm trăm nghìn đồng). [4]. Về xử lý vật chứng:
- Trả lại cho chị Nguyễn Thị L 01 (một) chiếc điện thoại Samsung Galaxy Note 20, màu vàng đồng, số Imei1: 350247874358909, số Imei2: 353791664358907, gắn sim số 0344.874.819 (đã qua sử dụng).
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước của bị cáo 01 (một) điện thoại Iphone 12 Pro, màu vàng, số imeil: 354957733324266, imeil2: 354957733469376, gắn số sim: 0975642343(đã qua sử dụng).
(Vật chứng hiện đang được lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự quận Ba Đình theo biên bản bàn giao vật chứng số 42 ngày 04/12/2024.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và có đơn xin thi hành án của người bị hại nếu bị cáo không chịu nộp tiền bồi thường trên thì hàng tháng còn phải chịu tiền lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước quy định tương ứng với thời gian chưa thi hành án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. [5].Về án phí : Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 5.125.000 đồng (Năm triệu một trăm hai mươi lăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. [6]. Về quyền kháng cáo:
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người bị hại có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND quận Ba Đình; - VKSND thành phố Hà Nội; - TAND thành phố Hà Nội; - Công an quận Ba Đình; - Chi cục THADS quận Ba Đình - Lưu HS - VP. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Hoài Phương |