vanban.org

Bản án 233/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Bình Chánh, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 25/11/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lê Cao C phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Lê Cao C 09 (chín) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Thời hạn tù tính từ ngày 12/5/2022. Phạt bổ sung bị cáo Lê Cao C số tiền 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng) để sung vào Ngân sách Nhà nước. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Cao C - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Cao C phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BÌNH CHÁNH
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:233/2022/HS-ST
Ngày: 25-11-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Hoàng Sơn.

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Bà Phan Thị Dòn

2/ Ông Võ Thanh Nhàn

Thư ký phiên toà: Bà Châu Nguyễn Thanh Thảo – Thư ký Toà án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Bà Ngô Kiều Trang – Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 11 năm 2022, tại Phòng xét xử hình sự thuộc Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 230/2022/TLST-HS ngày 01 tháng 11 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 231/2022/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 11 năm 2022 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lê Cao C, sinh năm 1983, tại Thành phố Hồ Chí Minh; giới tính: Nam; hộ khẩu thường trú: D16/27 tổ 16A, ấp Z, xã H, huyện B, Thành phố H; chỗ ở: Như trên; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; họ và tên cha: Lê Thanh T; họ và tên mẹ: Cao Ngọc D; hoàn cảnh gia đình: Bị cáo chưa có vợ con.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt, tạm giam từ ngày 12/5/2022 (có mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Ông Trương Minh P, sinh năm: 1995 (vắng mặt)

Nơi cư trú: 2/16 Ấp 3, xã T, huyện B, Thành phố H

2. Bà Ngô Thị Thanh Ph, sinh năm: 1963 (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

Nơi cư trú: 20/24A B, Phường H, Quận T, Thành phố H

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lê Cao C là người nghiện ma túy, để có tiền tiêu xài và mua ma túy sử dụng cho bản thân C đã nảy sinh ý định mua bán trái phép chất ma túy để kiếm lời khoảng 02 tháng tính đến ngày bị bắt. Để có ma túy sử dụng và bán cho người nghiện C đến khu vực cầu Đ thuộc Quận T để mua. Cụ thể: Vào khoảng 21 giờ ngày 11/5/2022, C đến khu vực cầu Đ mua của một người đàn ông (không rõ lai lịch) 01 gói Heroin với giá 2.800.000 đồng, sau đó mang về nhà ở tại địa chỉ D16/27 tổ 16A, ấp 4, xã B, huyện H phân ra thành 68 tép, mục đích cất giữ để bán lại cho người khác với giá 100.000 đồng mỗi tép. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, C tiếp tục qua khu vực cầu Đ mua của một người đàn ông tên Tr (không rõ lai lịch) một gói ma túy đá với giá 300.000 đồng mang về nhà phân chia thành 06 gói nhỏ bán cho người khác với giá 50.000 đồng mỗi gói, số ma túy đá còn lại dùng để sử dụng cho bản thân.

Đến sáng ngày 12/5/2022, C hẹn bán 02 tép Heroin cho một người thanh niên tên Trì (không rõ lai lịch) với giá 200.000 đồng, hẹn giao dịch tại ngã tư đường Tân Túc và đường số 2 thuộc tổ 13, Khu phố 3, thị trấn T, huyện B nhưng chưa bán được thì bị lực lượng Công an đi tuần tra phát hiện bắt giữ vào lúc 09 giờ 20 phút cùng ngày. Cơ quan Công an đã tiến hành lập biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng, chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Chánh để điều tra, xử lý. Tiến hành xét nghiệm nhanh chất ma túy cho kết quả C dương tính với ma túy.

Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của C tại địa chỉ D16/27 tổ 16A, ấp 4, xã B, huyện H, Cơ quan Công an thu giữ 66 đoạn ống nhựa hàn kín hai đầu chứa chất bột màu trắng và 06 đoạn ống nhựa hàn kín hai đầu chứa tinh thể không màu mà C khai nhận là ma túy loại Heroine và Methamphetamine dùng để bán lại cho người khác; đồng thời thu giữ một số vật dụng dùng để phân chia ma túy.

Bản kết luận giám định số 2789/KL-KTHS ngày 20/5/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an Thành Phố Hồ Chí Minh kết luận:

- 02 đoạn ống nhựa hàn kín hai đầu chứa chất bột màu trắng được gói trong 01 tờ giấy màu trắng là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 0,1345 gam, loại Heroine.

- 66 đoạn ống nhựa hàn kín hai đầu, bên trong chứa chất bột màu trắng là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 4,3495 gam, loại Heroine.

- 06 đoạn ống nhựa hàn kín hai đầu, bên trong chứa tinh thể không màu là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 0,4068 gam, loại Methamphetamine.

Tại Cơ quan cảnh sát điều tra Lê Cao C còn khai nhận trước đó đã bán ma túy cho nhiều người, trong đó có Trương Minh Ph (những người còn lại không rõ lai lịch). C đã bán Heroine cho ông Trương Minh Ph được khoảng 04 lần (không nhớ rõ ngày), chỉ nhớ lần gần nhất là ngày 10/5/2022, C đã bán cho Phi một tép ma túy là Heroine với giá 100.000 đồng nhưng chưa trả tiền. Đến sáng ngày 12/5/2022, C gặp Ph ở ngã tư đường T và đường số 2 thuộc tổ 13, Khu phố 3, thị trấn T, huyện B thì Phi mới trả tiền cho C. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã triệu tập và lấy lời khai của Trương Minh Phi. Lời khai của Phi phù hợp với lời khai của Lê Cao C.

Vật chứng thu giữ của vụ án gồm:

- 02 đoạn ống nhựa hàn kín hai đầu, bên trong chứa bột màu trắng là ma túy loại Heroin, có khối lượng 0,1345 gam; 66 đoạn ống nhựa hàn kín hai đầu, bên trong chứa bột màu trắng là ma túy loại Heroin, có khối lượng 4,3495 gam; 06 đoạn ống nhựa hàn kín hai đầu, bên trong chứa tinh thể không màu là ma túy loại Methamphetamine, có khối lượng 0,4068 gam.

- 01 tờ giấy màu trắng; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đã qua sử dụng; 01 bịch nylon; 01 dao lam; 01 cây kéo kẹp bằng kim loại; 01 cây kéo cắt bằng kim loại; 01 máy tính bảng (bị hư, không sử dụng được); 03 đoạn ống nhựa màu xanh; 04 đoạn ống nhựa màu tím; 01 quẹt gas.

- 01 điện thoại di động hiệu Oppo, số Imei 1: 862942056126378, số Imei 2: 862942056126360; 01 xe mô tô hiệu Honda loại Airblade biển số 59D1-324.26, số máy: JF18E5038071, số khung: Không rõ; số tiền 100.000 đồng là tiền C bán 01 tép ma túy loại Heroin cho Trương Minh Ph.

Tại Cáo trạng số 205/CT-VKS ngày 31/10/2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Lê Cao C về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b Khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, bị cáo Lê Cao C đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình giống như lời khai tại Cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Đồng thời thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh truy tố bị cáo. Bị cáo không tranh luận, lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố, sau khi nêu tóm tắt nội dung vụ án, phân tích tính chất của vụ án những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị:

Xử phạt bị cáo Lê Cao C từ 08 năm đến 09 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b Khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Phạt bổ sung bị cáo và xử lý vật chứng theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Bình Chánh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Tại các bản tự khai, biên bản ghi lời khai, bị cáo trình bày lời khai hoàn toàn tự nguyện, không bị ép cung, nhục hình. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai nhận tội của bị cáo Lê Cao C tại tòa là phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra (BL: 47-52, 79-80, 122-125); phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông Trương Minh Ph (BL: 55-60); phù hợp với các chứng cứ, tài liệu thu thập có trong hồ sơ vụ án. Vụ án còn được chứng minh qua hoạt động điều tra như biên bản lấy lời khai, thu giữ vật chứng, kết quả giám định vật chứng, Biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang ... Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Ngày 12/5/2022, bị cáo Lê Cao C đã có hành vi tàng trữ 4,484 gram ma túy là Heroin và 0,4068 gram ma túy ở thể rắn, loại Methamphetamine (Theo Kết luận giám định số 2789/KL-KTHS ngày 20 tháng 5 năm 2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an Thành Phố Hồ Chí Minh) với mục đích để bán cho người khác thì bị phát hiện bắt quả tang vào lúc 09 giờ 20 phút cùng ngày tại ngã tư đường Tân Túc và đường số 2 thuộc tổ 13, Khu phố 3, thị trấn Tân Túc, huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.

Với những tình tiết được chứng minh tại phiên toà hôm nay, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Lê Cao C đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” tội phạm được quy định tại Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) nên Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh đã truy tố bị cáo với tội danh nêu trên là đúng người, đúng tội.

Tội phạm do bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, mặc dù bị cáo biết rõ ma túy là loại biệt dược được Nhà nước thống nhất quản lý hết sức chặt chẽ, mọi hành vi liên quan đến ma túy từng mức độ sẽ bị xử lý hình sự. Bị cáo là người đã trưởng thành, nhận thức được việc làm của mình là vi phạm pháp luật. Song chỉ vì muốn có ma tuý sử dụng, muốn có tiền tiêu xài cho bản thân nên bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo gây mất an ninh, trật tự tại địa phương là tiền đề phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Do đó, khi lượng hình cần buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù có thời hạn một thời gian tương xứng với hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo thì mới có tác dụng răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung.

Bị cáo khai nhận mua bán trái phép ma túy khoảng 02 tháng tính đến ngày bị bắt quả tang, bán cho nhiều người, trong đó xác định: Bán cho người thanh niên tên Tr (không rõ lai lịch) vào ngày bị bắt quả tang, ngoài ra còn bán ma túy cho ông Trương Minh Ph được khoảng 04 lần, không xác định được ngày tháng chỉ nhớ lần gần nhất là ngày 10/5/2022, bán cho Phi một tép ma túy là Heroine với giá 100.000 đồng. Do đó, hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp phạm tội hai lần trở lên, đây là tình tiết định khung hình phạt, Hội đồng xét xử áp dụng điểm b Khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xét xử bị cáo, khi lượng hình có mức án nghiêm khắc đối với bị cáo.

Đối với số ma túy bị cáo tàng trữ để bán cho người nghiện có khối lượng 4,484 gram loại Heroin và 0,4068 gram loại Methamphetamine, tổng cộng có khối lượng là 4,8908 gram. Căn cứ vào Điều 4 Nghị định số 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính Phủ quy định về việc tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma túy tại một số điều của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) thì xác định: Khối lượng các chất ma túy thu giữ dưới 05 gram. Do đó, chưa đủ căn cứ xử lý đối với bị cáo thêm về hành vi mua bán trái phép 02 chất ma túy theo quy định tại điểm p Khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu; gia đình bị cáo có công với cách mạng có ông nội Lê Văn H là liệt sỹ, Hội đồng xét xử áp dụng điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.

Đối với những người bán ma túy cho bị cáo và những người mua ma túy của bị cáo, do tất cả không rõ lai lịch nên Cơ quan cảnh sát điều tra đang tiếp tục truy xét, khi nào bắt được sẽ làm rõ và xử lý sau.

Đối với Trương Minh Ph, qua xét nghiệm dương tính với ma túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Chánh đã có Công văn gửi đến Công an xã Tân Quý Tây, huyện Bình Chánh để lập hồ sơ xử lý đối tượng nghiện theo quy định pháp luật.

Đối với các số điện thoại liên quan đến vụ án, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Chánh đã gửi thông tin đến Công ty Viễn thông Mobifone để xác minh nhưng chưa có kết quả, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.

Về xử lý vật chứng vụ án:

Đối với:

- 02 đoạn ống nhựa hàn kín hai đầu, bên trong chứa bột màu trắng là ma túy loại Heroin, có khối lượng 0,1345 gram (sau giám định còn lại 0,0961 gram); 66 đoạn ống nhựa hàn kín hai đầu, bên trong chứa bột màu trắng là ma túy loại Heroin, có khối lượng 4,3495 gram (sau giám định còn lại 4,2348 gram); 06 đoạn ống nhựa hàn kín hai đầu, bên trong chứa tinh thể không màu là ma túy loại Methamphetamine, có khối lượng 0,4068 gram (sau giám định còn lại 0,3385 gram).

- 01 tờ giấy màu trắng; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đã qua sử dụng; 01 bịch nylon; 01 dao lam; 01 cây kéo kẹp bằng kim loại; 01 cây kéo cắt bằng kim loại; 01 máy tính bảng (bị hư, không sử dụng được); 03 đoạn ống nhựa màu xanh; 04 đoạn ống nhựa màu tím; 01 quẹt gas.

Những vật chứng trên là vật cấm tàng trữ, không còn giá trị sẽ tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm a Khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Đối số tiền 100.000 đồng; 01 điện thoại di động hiệu Oppo, số Imei 1: 862942056126378, số Imei 2: 862942056126360; 01 xe mô tô hiệu Honda loại Airblade biển số 59D1-324.26, số máy: JF18E5038071, số khung: Không rõ. Qua xác minh, xe mô tô trên do bà Ngô Thị Thanh Ph đứng tên chủ sở hữu. Bà Ph khai nhận đã bán xe này vào năm 2014 cho một người đàn ông không rõ lai lịch. Bị cáo khai nhận mua xe này khoảng 02 tháng trước khi bị bắt từ một người đàn ông không rõ lai lịch với giá 2.000.000 đồng, không có giấy tờ mua bán cũng không có giấy đăng ký xe. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Chánh đã đăng báo tìm chủ sở hữu nhưng đến nay chưa có ai liên hệ đến nhận xe. Xét, đây là tài sản của bị cáo nhưng bị cáo sử dụng làm công cụ, phương tiện liên lạc để mua bán ma tuý, tiền mua bán ma túy trái phép mà có nên sẽ tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước theo quy định tại điểm a Khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự là phù hợp.

Về trách nhiệm dân sự: Trong thời gian bị cáo mua bán trái phép chất ma tuý có thu nhập bất chính; tuy nhiên ngoài lời khai duy nhất của bị cáo thì không có chứng cứ nào khác chứng minh số tiền thu nhập bất chính cụ thể là bao nhiêu nên miễn bị cáo nộp lại số tiền này mà áp dụng Khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) phạt bổ sung bị cáo một khoản tiền nhất định để nộp vào Ngân sách Nhà nước là phù hợp.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định tại tại Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b Khoản 2, Khoản 5 Điều 251; điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Căn cứ vào các điểm a, c Khoản 2 Điều 106; Khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên bố bị cáo Lê Cao C phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Lê Cao C 09 (chín) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Thời hạn tù tính từ ngày 12/5/2022.

Phạt bổ sung bị cáo Lê Cao C số tiền 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng) để sung vào Ngân sách Nhà nước.

Việc bị cáo nộp số tiền phạt nêu trên phải được thực hiện ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Về vật chứng:

Tịch thu tiêu huỷ:

- 02 đoạn ống nhựa hàn kín hai đầu, bên trong chứa bột màu trắng là ma túy loại Heroin, có khối lượng 0,1345 gram (sau giám định còn lại 0,0961 gram); 66 đoạn ống nhựa hàn kín hai đầu, bên trong chứa bột màu trắng là ma túy loại Heroin, có khối lượng 4,3495 gram (sau giám định còn lại 4,2348 gram); 06 đoạn ống nhựa hàn kín hai đầu, bên trong chứa tinh thể không màu là ma túy loại Methamphetamine, có khối lượng 0,4068 gram (sau giám định còn lại 0,3385 gram).

- 01 tờ giấy màu trắng; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đã qua sử dụng; 01 bịch nylon; 01 dao lam; 01 cây kéo kẹp bằng kim loại; 01 cây kéo cắt bằng kim loại; 01 máy tính bảng (bị hư, không sử dụng được); 03 đoạn ống nhựa màu xanh; 04 đoạn ống nhựa màu tím; 01 quẹt gas.

Tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước: Số tiền 100.000 đồng; 01 điện thoại di động hiệu Oppo, số Imei 1: 862942056126378, số Imei 2: 862942056126360; 01 xe mô tô hiệu Honda loại Airblade biển số 59D1-324.26, số máy: JF18E5038071, số khung: Không rõ.

(các vật chứng trên hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh theo Biên bản giao, nhận vật chứng lập vào 10 giờ 00 phút ngày 28 tháng 10 năm 2022 giữa Công an huyện Bình Chánh và Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Bình Chánh. Riêng số tiền 100.000 đồng đang tạm giữ tại Kho bạc Nhà nước huyện Bình Chánh theo Giấy nộp tiền ngày 09/11/2022).

Về án phí: Buộc bị cáo chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, tính kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại tòa được quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày, tính từ ngày nhận được Bản án hoặc ngày Bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014.

Cỡ chữ