vanban.org

Bản án 233/2019/HSST — Hình sự

TAND TP. Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai Tuyên án 27/05/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Mai Tấn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt: Mai Tấn H 03 (ba) năm tù . Thời hạn tù tính từ ngày 21/01/2019. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Mai Tấn H - Tàng trữ trái phép chất ma túy. - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Mai Tấn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ BIÊN HÒA
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 233/2019/HSST
Ngày: 27/5/2019

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA – TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Phương Đông

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạ m Công Uẩ n

Bà Nguyễn Thị Thanh Thủy

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Trương Thị Diệp

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP. Biên Hòa tham gia phiên tòa:

Bà Nguyễn Hoàng Anh – Kiểm sát viên

Ngày 27 tháng 5 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai, mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 222/2019/HSST ngày 09 tháng 5 năm 2019 theo Quyế t đị nh đưa vụ á n ra xé t xử số 222/QĐXXST-HS ngà y 15 tháng 5 năm 2019 đối với bị cáo:

Mai Tấn H. Giới tính: Nam; Sinh năm 1986, tại thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú: 859/13, Kha Vạn C, phường Linh T, quận T, thành phố H; Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Cơ khí. Chức vụ, đảng phái: Không; Trình độ học vấn: Lớp 09/12; Họ tên cha: Mai Tấn H, sinh năm 1961, còn sống và họ tên mẹ: Phạm Ngọc M, sinh năm 1961, còn sống; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình; Họ và tên vợ: Phạm Thị Thủy T (đã ly hôn). Bị cáo có 01 con sinh năm 2014; Tiền án, tiền sự: Không; Bị bắt tạm giam ngày 21/01/2019 (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Mai Tấn H là người sử dụng trái phép chất ma túy. Vào khoảng 17 giờ ngày 14/01/2019, bị cáo đi đến khu vực Bệnh Viện T, thuộc khu phố 1, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai gặp N (chưa rõ lai lịch) để trả nợ thì N cho 01 gói nylon bên trong có 17 viên nén. Bị cáo nhận số ma túy trên bỏ vào gói thuốc lá cất giấu trong giỏ xách của bị cáo, mục đích để sử dụng.

Vào lúc 16 giờ ngày 18/01/2019, bị cáo tiếp tục đi đến Bệnh Viện T gặp N mua 01 gói ma túy tổng hợp hang đá với giá 2.500.000đ (Hai triệu năm trăm ngàn đồng). Sau đó bị cáo chia thành 8 gói nhỏ cho vào túi nylon cất giấu vào trong bóp mục đích để sử dụng.

Đế n khoảng 22 giờ ngày 21/01/2019, tại phòng số 5, khách sạn H, địa chỉ số E323, khu phố 5, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, bị cáo đang cất giấu 08 gói ma túy tổng hợp trong bóp để ở túi quần phía trước bên phải và 17 viên nén trong gói thuốc lá để trong túi xách của bị cáo thì bị đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy phát hiện bắt quả tang.

Tang vậ t thu giữ: - 08 (tám) gói nylon bên trong chứa tinh thể màu trắng, ký hiệu M1; - 09(chín) viên nén hình tròn màu xanh nõn chuối có logo chữ LV ký hiệu M2; - 07 (bảy) viên nén hình ô van màu xanh nước biển có lo go “EA7” ký hiệu M3; - 01 viên nén hình ô van màu xanh lá cây có logo “EA7” ký hiệu M4 (Tất cả đã được niêm phong có chữ ký của bị cáo); - 01 điện thoại di động hiệu Vivo số Imeil: 865407010000009 sử dụng số thuê bao 0971323785 và 800.000đ (Tám trăm ngàn đồng) không liên quan đến vụ án.

Tại bản kết luận giám định số 128/PC54-GĐMT ngày 28/01/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai kết luận:

- Mẫu tinh thể màu trắng, ký hiệu M1 đƣợc niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lƣợng: 4,1965 gam, loại Methaphetamine.

- Mẫu viên nén hình tròn màu xanh nõn chuối có logo chữ LV ký hiệu M2 được niêm phong gửi đến giám định có khối lượng: 2,6791 gam, loại Acetaminofen và Caffein.

- Mẫu viên nén hình ô van màu xanh nước biển có lo go “EA7” ký hiệu M3 được niêm phong gửi đến giám định có khối lượng: 2,0655 gam, loại Cafein và 5-Fluoro MDMB-PICA.

- Mẫu viên nén hình ô van màu xanh lá cây có logo “EA7” ký hiệu M4, được niêm phong gửi đến giám định có khối lượng: 0,4137 gam, loại Dimethylsulfone.

Acetaminofen, Caffein, Dimethylsulfone, Cafein và 5-Fluoro MDMB-PICA không nằm trong danh mục chất ma túy và tiền chất ban hành kèm theo Nghị định số 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính Phủ.

Tại cáo trạng số 228/CT/VKS-BH ngày 06 tháng 5 năm 2019, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa truy tố bị cáo Mai Tấn H, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa sơ thẩ m,

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tham gia phiên tòa trình bày lời luận tội nêu tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo theo điều khoản và tội danh như đã nêu trên và đề nghị xử phạt bị cáo mức án từ 03 (ba) năm đế n 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù.

- Bị cáo Mai Tấ n H không có ý kiến bào chữa, tranh luận gì đối với lời luận tội của đại diện Viện Kiểm sát. Trong lời nói sau cùng bị cáo đã nhận thức hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Về án phí: Bị cáo Mai Tấn H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng: Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an TP. Biên Hòa, Điều tra viên; Viện Kiểm sát nhân dân TP. Biên Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

Về nội dung vụ án: Xét thấy, tại phiên tòa bị cáo Mai Tấn H (người nghiện ma túy) khai nhận: Vào khoảng 17 giờ ngày 14/01/2019, bị cáo đi đến khu vực Bệnh Viện T, thuộc khu phố 1, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai gặp N (chưa rõ lai lịch) để trả nợ thì Nam cho 01 gói nylon bên trong có 17 viên nén. Bị cáo nhận số ma túy trên bỏ vào gói thuốc lá cất giấu trong giỏ xách của bị cáo, mục đích để sử dụng. Vào lúc 16 giờ ngày 18/01/2019, bị cáo tiếp tục đi đến Bệnh Viện T gặp N mua 01 gói ma túy tổng hợp hàng đá với giá 2.500.000đ (Hai triệu năm trăm ngàn đồng). Sau đó bị cáo chia thành 8 gói nhỏ cho vào túi nylon cất giấu vào trong bóp mục đích để sử dụng. Vào khoảng 22 giờ ngày 21/01/2019, tại phòng số 5, khách sạn H, địa chỉ số E323, khu phố 5, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, bị cáo đang cất giấu 08 gói ma túy tổng hợp trong bóp để ở túi quần phía trước bên phải và 17 viên nén trong gói thuốc lá để trong túi xách của bị cáo thì bị đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy phát hiện bắt quả tang.

Về tội danh: Xét thấy, lời khai của bị cáo H tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người làm chứng, nội dung biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ căn cứ xác định hành vi của bị cáo Mai Tấn H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” (Mẫu tinh thể màu trắng, ký hiệu M1 được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng: 4,1965 gam, loại Methaphetamine). Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 như cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân thành phố Biên Hòa đã truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi phạm tội của mình.

Về tính chất, mức độ hành vi: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của nhà nước về các chất ma tuý, là nguyên nhân làm gia tăng những tệ nạn xã hội và tội phạm hình sự; gây tác hại cho sức khỏe và gây ảnh nghiêm trọng đến trật tự trị an tại địa phương. Bản thân bị cáo cũng đủ nhận thức và biết ma túy là chất gây nghiện có tác hại rất lớn cho người sử dụng và đối với xã hội, các bị cáo cũng nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật. Song với nhu cầu của bản thân mà bị cáo đã bất chấp pháp luật và cố tình vi phạm. Nên cần phải có mức hình phạt nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cần cách ly các bị cáo khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục và có tác dụng răn đe, đấu tranh phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Mai Tấn H không có tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Xét thấy, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo H tỏ thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Với các tình tiết giảm nhẹ trên, Hội đồng xét xử sẽ cân nhắc, xem xét giảm nhẹ khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo H tàng trữ trái phép chất ma tuý với số lượng không lớn, mục đích tàng trữ để sử dụng cho bản thân mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển trái phép chất ma túy. Bị cáo đều không có nghề nghiệp ổn định, bản thân lại nghiện chất ma tuý, nên không có điều kiện để thi hành. Vì vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng trong vụ án:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

- Tịch thu tiêu hủy 08 (tám) gói nylon bên trong chứa tinh thể màu trắng, ký hiệu M1; 09(chín) viên nén hình tròn màu xanh nõn chuối có logo chữ LV ký hiệu M2; 07 (bảy) viên nén hình ô van màu xanh nước biển có lo go “EA7” ký hiệu M3; 01 viên nén hình ô van màu xanh lá cây có logo “EA7” ký hiệu M4.

- Trả lại 01 điện thoại di động hiệu Vivo số Imeil: 865407010000009 sử dụng số thuê bao 0971323785 và 800.000đ (Tám trăm ngàn đồng) không liên quan đến vụ án.

Đối với đối tượng tên N (chưa rõ nhân thân, lai lịch) có hành vi bán ma túy cho bị cáo Hiệp, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Biên Hòa tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý sau.

Về án phí: Bị cáo Mai Tấn H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Đối với phần trình bày và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP. Biên Hòa tại phiên tòa, xét thấy tương đối phù hợp với những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử sẽ xem xét khi quyết định về vụ án.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Mai Tấn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt: Mai Tấn H 03 (ba) năm tù . Thời hạn tù tính từ ngày 21/01/2019.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

- Tịch thu và tiêu hủy 08 (tám) gói nylon bên trong chứa tinh thể màu trắng, ký hiệu M1; 09 (chín) viên nén hình tròn màu xanh nõn chuối có logo chữ LV ký hiệu M2; 07 (bảy) viên nén hình ô van màu xanh nước biển có lo go “EA7” ký hiệu M3; 01 viên nén hình ô van màu xanh lá cây có logo “EA7” ký hiệu M4.

- Hoàn trả cho bị cáo 01 điện thoại di động hiệu Vivo số Imeil: 865407010000009 sử dụng số thuê bao 0971323785 và 800.000đ (Tám trăm ngàn đồng) không liên quan đến vụ án.

4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Mai Tấn H phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo:

Áp dụng Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Bị cáo Mai Tấ n Hiệ p có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ