- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng tín dụng"
- Tòa quyết gì? 39; Các Điều 92, 144, 147, 227, 228, 238, 266, 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 2322/2025/DS-ST Ngày: 30-9-2025 V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Tâm.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Phan Thành Phương.
2. Bà Nguyễn Thị Ánh Phượng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Trúc Ly - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực
9 - Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 – Thành phố Hồ Chí Minh
tham gia phiên tòa: Ông Trần Quang Lộc - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 9 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 9 - Thành phố
Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 249/2025/TLST-DS ngày 11 tháng 4 năm 2025 về tranh chấp hợp đồng tín dụng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 815/2025/QĐXXST-DS ngày 20 tháng 8 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 658/2025/QĐST-DS ngày 11 tháng 9 năm 2025, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần V.
Trụ sở: số H L, phường L, quận Đ, thành phố Hà Nội (nay là số H L, phường
G, thành phố Hà Nội).
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: ông Nguyễn Vương T, sinh năm:
1997. Địa chỉ liên hệ: số I C, phường B, Thành phố Hồ Chí Minh – Là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn (Giấy ủy quyền số 1821/2025/UQ-VPB ngày 15/7/2025). (có đơn xin vắng mặt)
2. Bị đơn: Bà Lưu Tuyết H, sinh năm 1988.
Địa chỉ thường trú: số A đường L, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí
Minh (nay là số A đường L, phường B, Thành phố Hồ Chí Minh). (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên
đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần V (sau đây gọi tắt là V1) do người đại diện theo ủy quyền là ông Nguyễn Vương T trình bày:
Bà Lưu Tuyết H có vay vốn tại V1, cụ thể theo các hợp đồng sau:
1. Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay không tài sản bảo đảm, mở và sử
dụng tài khoản thanh toán và dịch vụ ngân hàng Đ (sau đây gọi là hợp đồng số DSA/VN0010325/202309) ký ngày 19/9/2023, giải ngân ngày 23/9/2023, cụ thể: số tiền vay: 876.149.733 đồng; thời hạn vay: 60 tháng (từ ngày 24/9/2023 đến ngày 15/9/2028); lãi suất trong hạn tại thời điểm phát vay: 35%/năm, điều chỉnh theo thỏa thuận; mục đích vay: vay tiêu dùng.
Thực hiện hợp đồng, bà H chưa thanh toán cho V1 bất kỳ khoản tiền nào.
Tính đến ngày 30/9/2025, số tiền bà H còn nợ V1 theo hợp đồng nêu trên là
1.746.688.507 đồng, trong đó: nợ gốc là 876.149.733 đồng, nợ lãi là 870.538.774 đồng.
2. Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp hạn mức tín dụng thẻ, phát hành và sử
dụng thẻ tín dụng, dịch vụ ngân hàng Đ1 ngày 27/10/2022 (sau đây gọi là hợp đồng số 407-P-7079073), hạn mức 100.000.000 đồng.
Trong quá trình sử dụng thẻ, bà H đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền
210.968.000 đồng. Bà H đã thanh toán cho V1 số tiền tổng cộng 140.724.992 đồng, trong đó tiền gốc là 111.249.935 đồng, tiền lãi là 29.475.057 đồng.
Tính đến ngày 30/9/2025, số tiền bà H còn nợ V1 theo hợp đồng nêu trên là
222.310.340 đồng, trong đó: nợ gốc là 99.718.065 đồng, nợ lãi là 122.592.275 đồng.
Để đảm bảo quyền lợi hợp pháp của mình, V1 đề nghị Tòa án giải quyết buộc
bà Lưu Tuyết H phải trả tổng số tiền còn nợ tính đến ngày 30/9/2025 là 1.968.998.847 đồng, trong đó số tiền nợ gốc là 975.867.798 đồng, số tiền nợ lãi là 993.131.049 đồng. Yêu cầu bà H thanh toán một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật và tiếp tục thực hiện việc trả lãi phát sinh từ ngày 01/10/2025 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại các hợp đồng tín dụng đã ký.
Bị đơn – bà Lưu Tuyết H vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án và không
có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 – Thành phố Hồ Chí Minh phát
biểu ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán được phân công thụ lý giải
quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự như: thụ lý và giải quyết vụ án đúng thẩm quyền; xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp; tiến hành xác minh thu thập chứng cứ. Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn không thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về việc giải quyết vụ án: căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ
vụ án thì thấy rằng các bên có xác lập giao dịch tín dụng theo đúng quy định pháp luật. Xét việc bà H không thực hiện nghĩa vụ với V1 là chưa thực hiện đúng các thỏa thuận giữa các bên, làm ảnh hưởng đến quyền lợi của V1. Do đó, yêu cầu của nguyên đơn là có cơ sở, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh
tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Tranh chấp giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần V và bà Lưu Tuyết H
là tranh chấp hợp đồng tín dụng. Bị đơn – bà Lưu Tuyết H có nơi cư trú tại phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là phường B, Thành phố Hồ Chí Minh) nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 9 - Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 4 Nghị quyết số 81/2025/UBTVQH15; khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15.
Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn được Tòa án triệu
tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt, không thông báo lý do cho Tòa án, nên căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
Ngân hàng Thương mại Cổ phần V là tổ chức tín dụng được thành lập và
hoạt động theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng và các quy định khác của pháp luật, được phép cấp tín dụng. Tại thời điểm ký hợp đồng, bà H đã cung cấp các giấy tờ tùy thân, ký tên vào hợp đồng từ đó thể hiện việc ký kết hợp đồng dựa trên cơ sở tự nguyện và người ký kết hợp đồng có đầy đủ năng lực hành vi dân sự. Do đó hợp đồng tín dụng đã ký kết giữa các bên có hiệu lực.
Căn cứ các hợp đồng số DSA/VN0010325/202309 và 407-P-7079073,
các tóm tắt sao kê, bảng kê tính lãi có cơ sở xác định V1 đã cho bà H vay số tiền 876.149.733 đồng và đã cấp cho bà H thẻ tín dụng với hạn mức là 100.000.000 đồng.
Thực hiện hợp đồng, đối với khoản vay 876.149.733 đồng thì bà H không
thanh toán cho V1 bất kỳ khoản tiền nào. Đối với thẻ tín dụng thì bà H đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền 210.968.000 đồng; bà H đã thanh toán cho V1 số tiền tổng cộng 140.724.992 đồng, trong đó tiền gốc là 111.249.935 đồng, tiền lãi là 29.475.057 đồng.
Bị đơn bà Lưu Tuyết H vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án và không
có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không cung cấp tài liệu, chứng cứ chứng minh số tiền đã trả, số tiền còn nợ V1. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ và lời trình bày, thừa nhận của nguyên đơn để làm cơ sở giải quyết vụ án.
Do bà H vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên V1 đã chuyển toàn bộ dư nợ sang
nợ quá hạn và khởi kiện là có căn cứ theo thỏa thuận giữa hai bên và phù hợp với Điều 95 của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010.
Về yêu cầu trả nợ gốc: Xét bà Lưu Tuyết H đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ
đã được các bên thỏa thuận tại các hợp đồng số DSA/VN0010325/202309 và 407-P-7079073. Do đó, V1 yêu cầu bà H có nghĩa vụ trả nợ gốc với số tiền 975.867.798 đồng là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về yêu cầu trả tiền lãi: Số tiền lãi V1 yêu cầu bà H trả được tính dựa vào
sự thỏa thuận giữa các bên tại các hợp đồng số DSA/VN0010325/202309 và 407-P-7079073. Thỏa thuận này phù hợp với quy định tại Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010. Yêu cầu trả tiền lãi được tính theo đúng quy định tại Điều 13 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N và Điều 7 và Điều 8 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Do đó, yêu cầu của V1 về việc buộc bà H có nghĩa vụ trả số tiền nợ lãi tính đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 30/9/2025) với tổng số tiền 993.131.049 đồng là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Xét yêu cầu của V1 về việc yêu cầu bà H tiếp tục chịu lãi phát sinh từ
ngày 01/10/2025 theo mức lãi suất thỏa thuận tại các hợp đồng số DSA/VN0010325/202309 và 407-P-7079073. Hội đồng xét xử nhận thấy yêu cầu này phù hợp với thỏa thuận của các bên trong các hợp đồng, nên có cơ sở để chấp nhận.
Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 – Thành
phố Hồ Chí Minh là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
Về án phí:
- Bà Lưu Tuyết H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp
luật.
- Ngân hàng Thương mại Cổ phần V không phải chịu án phí và được trả lại
tiền tạm ứng án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều
39; Các Điều 92, 144, 147, 227, 228, 238, 266, 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 4 Nghị quyết số 81/2025/UBTVQH15;
- Căn cứ vào khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15;
- Căn cứ vào các Điều 91, 95 và 98 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010;
- Căn cứ vào Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội
đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;
- Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy
ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần V.
Buộc bà Lưu Tuyết H trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần V số tiền nợ
tính đến ngày 30/9/2025 với tổng số tiền là 1.968.998.847 (một tỷ, chín trăm sáu mươi tám triệu, chín trăm chín mươi tám nghìn, tám trăm bốn mươi bảy) đồng, trong đó: nợ gốc là 975.867.798 (chín trăm bảy mươi lăm triệu, tám trăm sáu mươi bảy nghìn, bảy trăm chín mươi tám) đồng, nợ lãi là 993.131.049 (chín trăm chín mươi ba triệu, một trăm ba mươi mốt nghìn, không trăm bốn mươi chín) đồng, theo Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay không tài sản bảo đảm, mở và sử dụng tài khoản thanh toán và dịch vụ ngân hàng Đ ký ngày 19/9/2023 và Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp hạn mức tín dụng thẻ, phát hành và sử dụng thẻ tín dụng, dịch vụ ngân hàng điện tử số 407-P-7079073 ngày 27/10/2022 giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần V và bà Lưu Tuyết H.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong,
bà Lưu Tuyết H còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay không tài sản bảo đảm, mở và sử dụng tài khoản thanh toán và dịch vụ ngân hàng Đ ký ngày 19/9/2023 và Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp hạn mức tín dụng thẻ, phát hành và sử dụng thẻ tín dụng, dịch vụ ngân hàng điện tử số 407-P-7079073 ngày 27/10/2022 giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần V và bà Lưu Tuyết H. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
2. Về án phí:
- Bà Lưu Tuyết H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 71.069.965 (bảy mươi
mốt triệu, không trăm sáu mươi chín nghìn, chín trăm sáu mươi lăm) đồng.
- Ngân hàng Thương mại Cổ phần V được trả lại số tiền tạm ứng án phí đã
nộp là 25.735.333 (hai mươi lăm triệu, bảy trăm ba mươi lăm nghìn, ba trăm ba mươi ba) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0077016 ngày 10/4/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 9 - Thành phố Hồ Chí Minh).
3. Các quyền và nghĩa vụ thi hành án của các đương sự được thực hiện tại
cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
4. Về quyền kháng cáo:
Đương sự không có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15
ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án
dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND khu vực 9-TP.Hồ Chí Minh; - THADS TP.Hồ Chí Minh; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký và đóng dấu) Nguyễn Minh Tâm |