vanban.org

Bản án 2322/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Huỳnh N.

Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận bà Phạm Huỳnh N với ông Quang Vũ K là vợ chồng. Về nuôi con chung: Giao trẻ Quang Như H, sinh ngày 26/10/2011 cho bà Phạm huỳnh N trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Phạm Huỳnh Như - Quách Vũ Khanh"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Huỳnh N.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 2322/2022/HNGĐ-ST
Ngày 22 – 9 - 2022
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU.

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Giang Nam.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Tạ Thanh Bự

Bà Ngô Hồng Dưỡng

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Cẩm Tú là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau.

Ngày 22 tháng 9 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 335/2022/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 8 năm 2022 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 198/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 9 năm 2022 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Phạm Huỳnh N , sinh năm 1992.

Cư trú tại: Ấp Đồng Tâm B, xã Tân Duyệt, huyện Đ , tỉnh C . (vắng mặt)

- Bị đơn: Ông Quách Vũ K , sinh năm 1988.

Cư trú tại: Ấp Nhà Củ, xã Quách Phẩm Bắc, huyện Đ , tỉnh C . (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Tại đơn khởi kiện đề ngày 12/7/2022 trong qúa trình giải quyết nguyên đơn bà Phạm Huỳnh N trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà với ông K chung sống vào năm 2010, hôn nhân tự nguyện, không đăng ký kết hôn. Trong quá trình vợ chồng chung sống ông K ghen tuông, đập phá tài sản trong gia đình, chửi cha mẹ bà, có lục đánh đập và dùng dao rược chém bà và không quan tâm lo lắng cho gia đình dẫn đến phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nay bà xét tình cảm không còn và không thể chung sống cùng ông K được nữa nên yêu cầu xin ly hôn với ông K.

Về con chung: Quang Như H, sinh ngày 26/10/2011, hiện đang sống cùng bà. Khi ly hôn bà N yêu cầu được nuôi con, cấp dưỡng không đặt ra.

Về và sản chung và nợ: Bà Phạm Huỳnh N xác định không có.

- Đối với bị đơn ông Quách Vũ K: Trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho ông K theo quy định pháp luật, nhưng ông K không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của bà N.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng: Vào ngày 19/8/2022 bà N có đơn xin vắng mặt; ông Quách Vũ K đã được Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau triệu tập hợp lệ đến Tòa án để tham gia tố tụng nhưng ông V vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà N và ông K.

Về quan hệ hôn nhân. Bà N với ông K chung sống với nhau vào năm 2010, hôn nhân tự nguyện, không đăng ký kết hôn và trong quá trình chung sống đến nay ông bà chưa đăng ký kết hôn theo quy định. Do đó, quan hệ hôn nhân của ông bà không có giá trị pháp lý theo quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình.

Bà N cho rằng, quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do ông K ghen và đánh bà nên bà yêu cầu được ly hôn với ông K. Xét yêu cầu của bà N thấy rằng, do bà N với ông K chung sống với nhau trong thời gian dài, mặc dù đủ điều kiện kết hôn nhưng ông bà không đăng ký kết hôn nên không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ chồng theo quy định tại khoản 1 Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình, nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình không công nhận bà N với ông K là vợ chồng.

Về nuôi con chung: Quang Như H, sinh ngày 26/10/2011, hiện đang sống cùng bà và khi ly hôn bà N yêu cầu được nuôi con Hội đồng xét xử xét thấy, tại khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình quy định “... trường hợp không thỏa thuận thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con...”. Theo quy định từ điều luật trên thấy rằng, tại văn bản trình bày nguyện vọng của trẻ Như H thể hiện trẻ Như H có nguyện vọng ở với bà N. Do đó, giao trẻ Như h cho bà N trực tiếp nuôi dưỡng. Cấp dưỡng nuôi con bà N không yêu cầu đặt ra xem xét.

Ông Quang Vũ K có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Về tài sản chung và nợ: Bà Phạm Huỳnh N xác định không có.

Án phí dân sự sơ thẩm: Tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định: Trong vụ án ly hôn thì nguyên đơn phải chịu án phí sơ thẩm, không phụ thuộc vào việc Tòa án chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Do đó, bà N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào Điều 9, khoản 1 Điều 14, khoản 2 Điều 53, khoản 2 Điều 81; khoản 3 Điều 82; khoản 2 Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình;

- Căn cứ vào khoản 4 Điều 147, điểm a, b khoản 2 Điều 227, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Căn cứ điểm a khoản 5, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Huỳnh N.

1. Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận bà Phạm Huỳnh N với ông Quang Vũ K là vợ chồng.

2. Về nuôi con chung: Giao trẻ Quang Như H, sinh ngày 26/10/2011 cho bà Phạm huỳnh N trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

Ông Quang Vũ K có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà Phạm Huỳnh N phải chịu 300.000 đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình bà N đã nộp 300.000 đồng theo biên lai số 0012739 ngày 12/7/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đầm Dơi; bà N đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bà Phạm Huỳnh N và ông Quang Vũ K có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ