vanban.org

Bản án 232/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND tỉnh Bắc Giang Tuyên án 25/09/2023 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Anh Phạm Văn Đ được ly hôn chị Dương Thị Mỹ L.

Về nuôi con chung: Giao cháu Phạm Tố U, sinh ngày 28/01/2016 cho anh Phạm Văn Đ trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Sau khi ly hôn, chị Dương Thị Mỹ L không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp hôn nhân và gia đình"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Anh Phạm Văn Đ được ly hôn chị Dương Thị Mỹ L.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 123 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 232 /2023/HNGĐ-ST
Ngày: 25-9-2023
V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thu Hiền

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Hoàng Văn Thành

Ông Đỗ Văn Long

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Khôi - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Ông Đặng Văn Thìn - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 193/2023/TLST- HNGĐ ngày 14 tháng 7 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 188/2023/QĐ-ST ngày 14/8/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 164/2023/QĐST-HNGĐ ngày 05/9/2023 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Anh Phạm Văn Đ, sinh ngày 19/5/1994 (vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn N, xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

2. Bị đơn: Chị Dương Thị Mỹ L, sinh ngày 26/02/1994 (vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn N, xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

Hiện đang lao động tại nước ngoài, không rõ địa chỉ.

Địa chỉ cuối cùng của chị L tại Việt Nam: Thôn N, xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện xin ly hôn và bản tự khai, nguyên đơn anh Phạm Văn Đ trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Trước khi kết hôn anh, chị L được tự do tìm hiểu đi đến hôn nhân, được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục của địa phương, có đăng ký kết hôn ngày 15/9/2015 tại Ủy ban nhân dân xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Sau khi kết hôn chị L về nhà anh làm dâu và chung sống hòa thuận với gia đình nhà chồng. Do điều kiện kinh tế khó khăn nên năm 2018 anh, chị cùng đi lao động tại Nhật Bản. Sau khi sang Nhật Bản vợ chồng chung sống hòa thuận, nhưng đến đầu năm 2020 vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống. Trong thời gian mâu thuẫn anh, chị đã nhiều lần nói chuyện hàn gắn tình cảm nhưng do bất đồng quan điểm quá lớn nên không có kết quả. Khi hai bên gia đình biết chuyện có gọi điện khuyên bảo vợ chồng về đoàn tụ nhưng anh, chị đều xác định không còn tình cảm nên không về đoàn tụ được. Kể từ giữa tháng 02/2020 đến nay anh và chị L không ai còn quan tâm đến nhau, ai có cuộc sống riêng của người đó. Nay anh hết hạn hợp đồng và về nước sinh sống, anh xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án xử cho ly hôn chị Dương Thị Mỹ L.

Về con chung: Anh và chị L có 01 con chung là cháu Phạm Tố U, sinh ngày 28/01/2016, hiện nay con chung đang sinh sống cùng anh. Sau khi ly hôn anh đề nghị giao con chung cho anh trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản, công nợ chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Chị Dương Thị Mỹ L là bị đơn không có mặt tại địa phương, không gửi văn bản giấy tờ, tài liệu về cho Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.

Tại bản tự khai Tòa án nhận được ngày 03/8/2023 và 10/8/2023, ông Dương Văn D là bố chị Dương Thị Mỹ L cho biết: Anh Đ, chị L được tự do tìm hiểu đi đến hôn nhân, được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới, hỏi theo phong tục địa phương, có đăng ký kết hôn ngày 15/9/2015 tại Ủy ban nhân dân xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Sau khi kết hôn chị L về nhà anh Đ làm dâu và chung sống hòa thuận với gia đình nhà chồng. Do kinh tế khó khăn nên năm 2018 anh, chị cùng đi Nhật Bản lao động. Sau khi sang Nhật Bản anh, chị vẫn hòa thuận nhưng đến đầu năm 2020 ông thấy chị L nói anh, chị phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống. Hai bên gia đình đã gọi điện khuyên bảo anh, chị về đoàn tụ để cùng chăm sóc con nhưng không được.

Anh Đ, chị L có 01 con chung là là cháu Phạm Tố U, sinh ngày 28/01/2016, hiện nay cháu sinh sống cùng anh Đ.

Sau khi nhận thông báo thụ lý vụ án, ông đã thông báo cho chị L. Chị L thường xuyên liên lạc về với gia đình, trong những lần liên lạc chị cho biết: chị và anh Đ hiện nay không còn tình cảm với nhau, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng nên chị cũng đồng ý ly hôn với anh Đ. Do chị đang lao động tại nước ngoài nên không đảm bảo chăm sóc con nên chị đồng ý giao con cho anh Đ chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Chị hiện đang lao động tại Nhật Bản nhưng chị không cung cấp cho Tòa án địa chỉ nơi làm việc tại Nhật Bản và ý kiến bằng văn bản cho Tòa án được. Đề nghị Tòa án căn cứ theo quy định của pháp luật giải quyết vụ án.

Cháu Phạm Tố U trình bày: Hiện nay đang sinh sống cùng bố, nếu bố mẹ ly hôn hai cháu muốn được ở cùng bố.

Tại phiên tòa, anh Phạm Văn Đ vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, chị Dương Thị Mỹ L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 02 nhưng vẫn vắng mặt.

Hội đồng xét xử tóm tắt nội dung vụ án, công bố đơn khởi kiện, bản tự khai của anh Phạm Văn Đ; bản tự khai của ông D là bố đẻ chị Dương Thị Mỹ L và thông qua các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang phát biểu về việc tuân theo pháp luật về tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký Tòa án đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án.

Về việc chấp hành pháp luật của đương sự: Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt nên thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình được quy định trong Bộ luật tố tụng dân sự, bị đơn không có địa chỉ cụ thể ở nước ngoài, Tòa án đã niêm yết đầy đủ các văn bản tố tụng đối với bị đơn. Căn cứ các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử, xét xử vắng mặt bị đơn là đúng theo quy định của pháp luật.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 51, 53, 56, 81, 82, 83, khoản 2 Điều 123 và Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271; Điều 273, khoản 2 Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTBVQH14 ngày 30/12/2016 Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Phạm Văn Đ.

Xử cho anh Phạm Văn Đ được ly hôn chị Dương Thị Mỹ L.

Về con chung: Do chị L hiện nay đang đi xuất khẩu lao động ở nước ngoài nên đề nghị Hội đồng xét xử giao cháu Phạm Tố U, sinh ngày 28/01/2016 cho anh Phạm Văn Đ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con, tài sản, công nợ chung: Chị L không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Anh Phạm Văn Đ phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được công bố tại phiên toà, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát. Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Anh Đ khởi kiện xin ly hôn chị L và đề nghị giải quyết nuôi con chung. Vì vậy, đây là vụ án “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự.

. Về thẩm quyền giải quyết: Theo Công văn trả lời số 18869/QLXNC-P5 về việc cung cấp thông tin xuất nhập cảnh ngày 25/7/2023 của Cục Quản lý xuất nhập cảnh - Bộ công an cung cấp, chị L xuất nhập cảnh 05 lần, xuất cảnh gần nhất ngày 03/6/2023, hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước. Vì vậy, Hội đồng xét xử xác định chị L hiện nay đang lao động tại nước ngoài. Chị L là bị đơn thường trú tại tỉnh Bắc Giang nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang theo quy định tại khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37 của Bộ luật tố tụng dân sự.

. Về việc vắng mặt của đương sự:

Về việc vắng mặt của nguyên đơn: Anh Phạm Văn Đ là nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt anh Phạm Văn Đ.

Về việc vắng mặt của bị đơn: Căn cứ theo lời khai của nguyên đơn và ông D là bố đẻ chị L, Hội đồng xét xử xác định nơi cư trú cuối cùng của chị L trước khi xuất cảnh lần gần nhất là Thôn N, xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang đã tiến hành giao thông báo thụ lý vụ án cho chị L thông qua ông D và đề nghị ông D thông báo cho chị L biết việc Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang đang thụ lý vụ giải quyết vụ án “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” giữa nguyên đơn là anh Phạm Văn Đ và bị đơn là chị Dương Thị Mỹ L. Ông Dân cho biết chị L vẫn thường xuyên liên lạc về gia đình, nhưng chị L không cung cấp cho gia đình, Tòa án địa chỉ cụ thể của chị L tại Nhật Bản. Do đó, Hội đồng xét xử xác định đây là trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ, từ chối khai báo, từ chối cung cấp những tài liệu cần thiết. Vì vậy, Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng cần tống đạt cho bị đơn và xử vắng mặt bị đơn theo Công văn số 253/TANDTC-PC ngày 26/11/2018 của Tòa án nhân dân Tối cao và khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.

. Về quan hệ hôn nhân: Anh Phạm Văn Đ và chị Dương Thị Mỹ L kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện và có đăng ký kết hôn ngày 15/9/2015 tại Ủy ban nhân dân xã Quý Sơn, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang. Do đó, đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Quá trình chung sống vợ chồng anh Đ, chị L phát sinh mâu thuẫn, anh Đ xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án xử cho anh được ly hôn chị Dương Thị Mỹ L.

Xét yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của anh Phạm Văn Đ với chị Dương Thị Mỹ L. Hội đồng xét xử thấy: Sau khi kết hôn anh Đ, chị L chung sống hòa thuận và cùng sang Nhật Bản lao động. Sau khi sang Nhật Bản vợ chồng vẫn chung sống hòa thuận nhưng đến đầu năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn. Trong thời gian mâu thuẫn anh, chị đã nhiều lần nói chuyện để hàn gắn tình cảm nhưng không được. Khi hai bên gia đình biết chuyện có gọi điện thoại khU bảo anh, chị bỏ qua mâu thuẫn tiếp tục về chung sống nhưng không được. Kể từ giữa tháng 02/2020 đến nay anh, chị không còn liên lạc hỏi thăm nhau, ai có cuộc sống riêng của người đó. Do đó, Hội đồng xét xử xác định vợ chồng anh Đ, chị L không còn yêu thương, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Đ với chị L là phù hợp với tình trạng hôn nhân thực tế, phù hợp với quy định của pháp luật tại Điều 51, Điều 53, Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình cũng như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa.

. Về nuôi con chung: Anh Đ, chị L có 01 con chung là cháu Phạm Tố U, sinh ngày 28/01/2016. Hiện nay con chung đang sinh sống cùng anh Đ và do anh Đ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Sau khi ly hôn anh Đ đề nghị Tòa án giao con chung cho anh trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Cháu Phạm Tố U có nguyện vọng được ở cùng bố.

Xét yêu cầu nuôi con chung của anh Đ: Hội đồng xét xử thấy hiện nay chị L đang lao động tại nước ngoài nên không thể trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Con chung đang sinh sống cùng anh Đ, cháu phát triển bình thường cả về thể chất lẫn tinh thần. Ngoài ra cháu U trên 07 tuổi có nguyện vọng ở với bố nếu bố mẹ ly hôn. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu giao con chung là cháu Phạm Tố U, sinh ngày 28/01/2016 cho anh Đ là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật sau khi ly hôn là phù hợp với tình hình thực tế, phù hợp với quy định của pháp luật tại Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình cũng như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa.

Sau khi ly hôn chị Dương Thị Mỹ L có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở chị L thực hiện quyền này.

Trường hợp chị Dương Thị Mỹ L về nước sinh sống, có nguyện vọng nuôi con chung hoặc vì quyền lợi chính đáng của con chung, các đương sự có quyền khởi kiện yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn bằng vụ án khác theo quy định tại Điều 84 Luật hôn nhân gia đình.

. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Do anh Đ không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

. Về tài sản, công nợ chung: Do anh Đ không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

. Về án phí: Theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ Luật Tố tụng dân sự; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án. Anh Phạm Văn Đ phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang.

. Về quyền kháng cáo:

Theo Điều 271; khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự, anh Đ vắng mặt tại phiên tòa nhưng có mặt tại Việt Nam thì thời hạn kháng cáo bản án của Tòa án là 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Theo Điều 271, khoản 2 Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự, chị L đang lao động tại nước ngoài không có mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo bản án của Tòa án là 01 tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, khoản 2 Điều 123, Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273, khoản 2 Điều 479 Bộ Luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án; xử:

1. Về hôn nhân: Anh Phạm Văn Đ được ly hôn chị Dương Thị Mỹ L.

2. Về nuôi con chung: Giao cháu Phạm Tố U, sinh ngày 28/01/2016 cho anh Phạm Văn Đ trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

Sau khi ly hôn, chị Dương Thị Mỹ L không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở chị L thực hiện quyền này.

3. Về án phí: Anh Phạm Văn Đ phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0000125 ngày 14/7/2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang. Xác nhận anh Phạm Văn Đ đã nộp đủ án phí sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo bản án: Anh Phạm Văn Đ có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Chị Dương Thị Mỹ L có quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ