- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "hôn nhân và gia đình"
- Tòa quyết gì? Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ T TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 232/2023/HNGĐ - ST Ngày: 23 - 05 - 2023 “V/v ly hôn giữa Bà H và ông S” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ T, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Ngọc Thảo.
Các Hội thẩm nhân dân:
1.Ông Võ Văn Tám.
2.Bà Nguyễn Thị Mỹ Thanh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Tuyết – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú T, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú T, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Lê Thanh Phong – Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 05 năm 2023, tại Tòa án nhân dân huyện Phú T xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 467/2022/TLST-HNGĐ ngày 24/11/2022 về tranh chấp “Ly hôn, nuôi con khi ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 116/2023/QĐXXST-HNGĐ, ngày 14 tháng 04 năm 2023 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Lê Thị Hoàng H, sinh năm 1990.
HKTT: khóm Phú H, thi trấn Chợ V, huyện Phú T, tỉnh An Giang.
Hiện trú tại: Ấp Hưng Th1, xã Phú H, huyện Phú T, tỉnh An Giang.
2. Bị đơn: Ông Phan Văn S, sinh năm 1986.
Trú tại: khóm Phú H, thị trấn Chợ V, huyện Phú T, tỉnh An Giang.
(các đương sự vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ly hôn đề ngày 24/10/2022, quá trình tố tụng nguyên đơn Bà Lê Thị Hoàng H trình bày:
Hôn nhân của ông S và Bà H do mai mối rồi thành vợ chồng, tổ chức lễ cưới theo nghi thức truyền thống năm 2009 nhưng đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Chợ V năm 2010. Giấy chứng nhận kết hôn số 127, quyển số 01, ngày 17 tháng 08 năm 2010, thời gian đầu chung sống hạnh phúc về sau phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cải nhau về những chuyện vặt trong gia đình, đời sống tình cảm ngày càng trầm trọng, năm 2021 Bà H bỏ nhà đi, vợ chồng ly thân. Trong thời gian ly thân ông S không tới lui thăm hỏi, hay có ý hàn gắn tình cảm vợ chồng. Nay tình cảm không còn yêu cầu được ly hôn với ông S.
Về con chung: Bà H trình bày vợ chồng có hai con chung tên Phan Tuyết N, sinh ngày 14/07/2010 và Phan Khánh N, sinh ngày 13/01/2020. Cháu Khánh N đang sống chung với Bà H, cháu Tuyết Nhi đang sống chung với ông S, khi ly hôn Bà H đồng ý giao Tuyết Nhi cho ông S nuôi dưỡng, bà nuôi cháu Khánh N, không ai phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không.
Về nợ chung: Không. Ngày 15/02/2023 Bà Lê Thị Hoàng H có đơn xin xét xử vắng mặt
Bị đơn Ông Phan Văn S vắng mặt từ khi Tòa án thụ lý vụ án, nên không có ý kiến trình bày.
Tòa án tiến hành xác minh tình trạng hôn nhân được bà Đỗ Thị Kh, mẹ đẻ ông S cho biết: Ông S là con đẻ, Bà H là con dâu, sau khi cưới vợ cho con thì hai vợ chồng con sống tại nhà bà Khanh ở thị trấn Chợ V, huyện Phú T, tỉnh An Giang. Hôn nhân của con có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn, mâu thuẫn vợ chồng con như thế nào thì không rõ, Hoàng Hoa bỏ về nhà cha mẹ đẻ sống từ năm 2021 đến nay. Tùy Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.
Con chung: Sáng, Hoa có hai con chung tên Phan Tuyết N, sinh ngày 14/07/2010 và Phan Khánh N, sinh ngày 13/01/2020. Cháu Khánh N đang sống chung với Bà H, cháu Tuyết Nhi đang sống chung với ông S, khi ly hôn tùy Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.
Về tài sản chung, nợ chung được biết là không có.
Tại phiên tòa, kiểm sát viên phát biểu về quá trình tiến hành tố tụng và đề xuất như sau:
- Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định pháp luật.
- Về việc giải quyết vụ án: Hôn nhân của ông S và Bà H do mai mối rồi thành vợ chồng, hôn nhân có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn. Đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ; quá trình chung sống vợ chồng có nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống và ly thân, từ khi ly thân đến nay không hàn gắn được. Nên yêu cầu ly hôn của Bà H là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.
Về con chung: Có hai con chung tên Phan Tuyết N, sinh ngày 14/07/2010 và Phan Khánh N, sinh ngày 13/01/2020. Cháu Khánh N đang sống chung với Bà H, cháu Tuyết Nhi đang sống chung với ông S, đề nghị HĐXX giao con chung Tuyết Nhi cho ông S tiếp tục nuôi dưỡng, giao cháu Khánh N cho Bà H tiếp tục nuôi dưỡng, không ai cấp dưỡng cho ai.
Về tài sản chung, nợ chung: Không.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng:
Về quan hệ tranh chấp: Bà H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với ông S nên quan hệ tranh chấp của vụ án là “Ly hôn, nuôi con khi ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Về thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn Bà Lê Thị Hoàng H có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn Ông Phan Văn S được tống đạt các văn bản tố tụng, quyết định đưa vụ án ra xét xử và quyết định hoãn phiên tòa, nhưng ông, bà không có mặt nên HĐXX xét xử vắng mặt ông, bà theo Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
Hiện tại ông S có nơi cư trú tại khóm Phú H, thi trấn Chợ V, huyện Phú T, tỉnh An Giang nên căn cứ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Phú T, tỉnh An Giang.
[2.] Về nội dung:
Hôn nhân của Bà H và ông S được xác lập năm 2009 có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn nên hôn nhân của ông bà là hôn nhân hợp pháp nên làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa vợ chồng.
Xét về yêu cầu ly hôn, thấy rằng: Trong thời gian chung sống vợ chồng ông S, Bà H có nhiều mâu thuẫn nên thường xuyên cải vã, mâu thuẫn kéo dài, đời sống tình cảm ngày càng trầm trọng. Năm 2021 Bà H bỏ về nhà cha mẹ đẻ sống, vợ chồng ly thân, trong thời gian ly thân ông S không tới lui thăm hỏi hay có ý hàn gắn tình cảm vợ chồng, đều này phù hợp với các chứng cứ Tòa án thu thập được.
Theo quy định tại Điều 19, Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định: “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẽ, thực hiện các công việc trong gia đình; Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau….”. Thế nhưng vợ chồng ông S, Bà H không còn chung sống khoảng 02 năm nay là khoảng thời gian dài. Điều này chứng tỏ vợ chồng không còn yêu thương, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau, cũng như không thể chia sẻ công việc trong gia đình với nhau được nữa, đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Hội đồng xét xử thống nhất cho Bà H được ly hôn với ông S.
[3] Về con chung: Bà H trình bày vợ chồng có 02 người con chung tên Phan Tuyết N, sinh ngày 14/07/2010 và Phan Khánh N, sinh ngày 13/01/2020, con chung chưa thành niên. Bà H đồng ý giao Tuyết Nhi cho ông S tiếp tục nuôi dưỡng, cháu Tuyết Nhi hiện đang sống với ông S. Bà H nuôi cháu Khánh N, cháu Khánh N hiện đang sống với Bà H.
Xét thấy từ khi ly thân đến nay cháu Tuyết Nhi đang sống với ông S, cháu Khánh N đang sống với Bà H, có cuộc sống ổn định, nên tiếp tục giao cháu Tuyết Nhi cho ông S tiếp tục nuôi dưỡng, cháu Khánh N cho Bà H tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc là phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân gia đình năm 2014. Bà H, ông S không yêu cầu cấp dưỡng cho con nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Bà H trình bày tài sản chung, nợ chung không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Nhưng sau khi Bản án có hiệu lực pháp luật nếu có nguyên đơn xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân thì phải liên đới chịu trách nhiệm với tư cách đồng bị đơn trong vụ án dân sự khác.
[4] Về án phí: Bà H phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 227, Điều 228; khoản 4 Điều 147; Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
- Điều 19, Khoản 1 Điều 56, khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình.
- Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho Bà Lê Thị Hoàng H được ly hôn với Ông Phan Văn S.
Giấy chứng nhận kết hôn số 127, quyển số 01 ngày 17/08/2010 của Ủy ban nhân dân thị trấn Chợ V không còn giá trị pháp lý.
Về con chung: Giao con chung tên Phan Khánh N, sinh ngày 13/01/2020 cho Bà Lê Thị Hoàng H tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục. Giao con chung tên Phan Tuyết N, sinh ngày 14/07/2010 cho Ông Phan Văn S được tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục. Cháu Khánh N đang sống với Bà H, cháu Tuyết Nhi đang sống với ông S
Ông Phan Văn S, Bà Lê Thị Hoàng H không ai phải cấp dưỡng cho con.
Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Trên cơ sở lợi ích của con, theo yêu cầu của cha mẹ hoặc cá nhân, cơ quan tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.
Về tài sản chung: Không.
Nợ phải thu, phải trả chung của vợ chồng: Không.
Về án phí: Bà Lê Thị Hoàng H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn là 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng), được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0005806 ngày 23/11/2022 của Chi cục Thi hành án huyện Phú T, tỉnh An Giang. Bà Lê Thị Hoàng H không phải nộp thêm án phí.
Ông Phan Văn S không phải chịu án phí.
Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bà H, ông S vắng mặt tại phiên tòa thời hạn kháng cáo đối với bản án là 15 ngày tính từ ngày ông, bà nhận được bản án hoặc niêm yết.
Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo qui định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Đương sự; - Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp; - UBND thị trấn Chợ V; - Tòa án nhân dân tỉnh An Giang; - Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú T; - Lưu: hồ sơ vụ án, văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Thị Ngọc Thảo |