vanban.org

Bản án 232/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp hôn nhân gia đình"
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU PHÚ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 232/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 05/5/2023
V/v ly hôn, tranh chấp về
nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lương Ngọc Dũng.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Giữ.

2. Ông Huỳnh Tấn Hưng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Văn Quang - Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diệu, Kiểm sát viên.

Trong ngày 05 tháng 5 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 432/2022/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 10 năm 2022 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 138/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 3 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 176/2023/QĐST-HNGĐ ngày 11 tháng 4 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Trần Thị Thu T, sinh năm 1984, địa chỉ : Tổ 12, ấp M, xã Mỹ Đ, huyện Châu P, tỉnh An Giang, vắng mặt.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1988, địa chỉ: Tổ 11, ấp M, xã Mỹ Đ, huyện Châu P, tỉnh An Giang, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 04 tháng 5 năm 2022, bản tự khai, biên bản hòa giải, nguyên đơn là bà Trần Thị Thu T trình bày:

Về hôn nhân: Bà và ông T chung sống với nhau vào năm 2010, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân phường Long Phú, thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang theo Giấy chứng nhận kết hôn số 81-2010 ngày 01/7/2010. Thời gian đầu sống hạnh phúc, về sau vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do thường xuyên cải vã, tính tình, cuộc sống không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống. Hiện bà và ông T đã sống ly thân từ năm 2017 cho đến nay, không còn liên lạc với nhau. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn để tiếp tục sống chung nên bà T yêu cầu ly hôn với ông T.

Về con chung: Bà và ông T có 01 người con chung tên Nguyễn Văn N, sinh ngày 23/01/2014 hiện đang sống với bà T. Bà T yêu cầu được tiếp tục nuôi dạy con chung, không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

Về nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

Tòa án đã triệu tập hợp lệ ông T đến trụ sở Tòa án để tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải về yêu cầu khởi kiện của bà T nhưng ông T vắng mặt không có lý do.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú:

- Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp, tư cách đương sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, thực hiện tống đạt các văn bản tố tụng, thu thập chứng cứ đúng quy định pháp luật. Thẩm phán đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật về tố tụng từ khi thụ lý đến khi đưa vụ án ra xét xử. Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định tố tụng tại phiên toà.

- Về việc chấp hành pháp luật: Các đương sự đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà. Tuy nhiên bị đơn không có mặt theo giấy triệu tập của Toà án là chưa chấp hành đúng quy định tại Điều 70, Điều 72 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

- Về nội dung vụ án:

Về hôn nhân: Bà T và ông T chung sống với nhau có đăng ký kết hôn đúng quy định của pháp luật nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, do đó bà T yêu cầu ly hôn là có căn cứ.

Về con chung: Bà T và ông T có 01 người con chung hiện đang sống với bà T. Bà T yêu cầu được tiếp tục nuôi dạy con chung, không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

Từ cơ sở trên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 8, 9, 51, 53, 56, 58, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà T.

Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Văn Nhã cho bà T trực tiếp chăm sóc nuôi dạy. Ông T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét giải quyết.

Về án phí: Bà T phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, người tham gia tố tụng và các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn, xét đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn có đơn khởi kiện tại Tòa án và đã nộp tạm ứng án phí nên Tòa án thụ lý giải quyết theo thẩm quyền.

Bà T có đơn đề nghị Toà án xét xử vắng mặt; ông T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên Toà án tiến hành xét xử vắng mặt bà T, ông T theo quy định tại khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Về hôn nhân: Bà T và ông T chung sống với nhau vào năm 2010, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân phường Long Phú, thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang theo Giấy chứng nhận kết hôn số 81-2010 ngày 01/7/2010 nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp.

Theo lời khai của bà T thì mâu thuẫn phát sinh trong quá trình chung sống là do thường xuyên cải vã, tính tình, cuộc sống không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống. Hiện bà và ông T đã sống ly thân từ năm 2017 cho đến nay, không còn liên lạc với nhau. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn để tiếp tục sống chung nên bà T yêu cầu ly hôn với ông T.

Tòa án đã triệu tập hợp lệ ông T đến trụ sở Tòa án để tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải về yêu cầu khởi kiện của bà T nhưng ông T vắng mặt không có lý do.

Tòa án đã tiến hành xác minh tình trạng hôn nhân của bà T và ông T. Tại biên bản xác minh do Tòa án lập ngày 03/3/2023, đại diện Công an xã Mỹ Đức, huyện Châu Phú cho biết trong quá trình chung sống bà T và ông T có xảy ra mâu thuẫn hay không thì địa phương không rõ do không nhận được thông tin, nhưng khoảng 05 năm trở lại đây không thấy bà T và ông T chung sống với nhau.

Từ cơ sở trên xét thấy quan hệ hôn nhân giữa bà T và ông T là mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, do đó bà T yêu cầu ly hôn với ông T là có căn cứ chấp nhận.

Về con chung:

Bà T và ông T có 01 người con chung tên Nguyễn Văn N, sinh ngày 23/01/2014 hiện đang sống với bà T. Bà T yêu cầu được tiếp tục nuôi dạy con chung, không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung.

Xét thấy các cháu N hiện đang sống với bà T và cũng có nguyện vọng được sống cùng với bà T, nên giao cháu N cho bà T tiếp tục nuôi dạy.

Ông T không phải cấp dưỡng nuôi con chung, có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung mà không ai được cản trở. Trên cơ sở lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, Toà án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí:

Bà T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Ông T không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; khoản 4 Điều 147, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Thu T.

Bà Trần Thị Thu T được ly hôn với ông Nguyễn Văn T.

Giấy chứng nhận kết hôn số 81-2010 ngày 01/7/2010 của Uỷ ban nhân dân phường Long Phú, thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang cấp cho bà Trần Thị Thu T và ông Nguyễn Văn T không còn giá trị pháp lý.

2. Về con chung:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Thu T.

Bà Trần Thị Thu T được nuôi dạy con chung tên Nguyễn Văn N, sinh ngày 23/01/2014.

Ông Nguyễn Văn T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Ông Nguyễn Văn T có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung mà không ai được cản trở.

Trên cơ sở lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, Toà án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Trần Thị Thu T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng nhưng được khấu trừ tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004769 ngày 27 tháng 9 năm 2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Phú. Ông Nguyễn Văn T không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Thời hạn kháng cáo của đương sự vắng mặt tại phiên tòa là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ