vanban.org

Bản án 232/2022/HSPT — Hình sự

TAND tỉnh Đắk Lắk Tuyên án 26/09/2022 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 26/09/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật tố tụng hình sự - Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Bùi M.

Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 195/2022/HS-ST ngày 18/7/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk về biện pháp chấp hành hình phạt, tù có điều kiện. [2] Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2, khoản 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung…"
  • Tòa quyết gì? [1] Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật tố tụng hình sự - Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Bùi M.
  • Căn cứ chính? Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 232/2022/HS-PT
Ngày 26 - 9 - 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Kim Khánh.

Các Thẩm phán: Ông Trần Duy Tuấn và ông Trương Công Bình.

- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thúy Hằng, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Tâm - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 219/2022/TLPT-HS ngày 25/8/2022 đối với bị cáo Bùi M về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 195/2022/HS-ST ngày 18/7/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.

* Bị cáo có kháng cáo:

Họ và tên: Bùi M; Sinh ngày 27/7/1977, tại tỉnh Quảng Ngãi; Nơi cư trú: Buôn T, thị trấn E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk;

Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông: Bùi T và bà: Nguyễn Thị H1 (đều đã chết); Bị cáo có vợ là Trương Thị Lệ T1, sinh năm 1979 và có 02 con, sinh năm 2004 và 2012; Tiền án; Tiền sự: Không; Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú đến nay (Có mặt).

* Bị hại:

1. Cháu Nguyễn Tuấn K, sinh năm 2015 (đã chết)

Người đại diện hợp pháp của cháu K: Chị Nguyễn Thị Hồng H1, sinh năm 1983 và anh Nguyễn K1, sinh năm 1985. Cùng địa chỉ: Tổ dân phố 7, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.

2. Cháu Nguyễn Phạm Gia N, sinh năm 2015.

Người đại diện hợp pháp của cháu N: Ông Nguyễn Xuân T2, sinh năm 1988 và bà Phạm Thị H, sinh năm 1994. Cùng địa chỉ: 11/3/8 A, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.

3. Chị Nguyễn Thị Hồng H, sinh năm 1983; địa chỉ: Tổ dân phố 7, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 07 giờ 42 phút ngày 18/12/2021, Bùi M (đã có giấy phép lái xe ô tô hạng C do Sở Giao thông vận tải tỉnh Đắk Lắk cấp ngày 27/12/2019), điều khiển xe ô tô biển số 47C-140.50, lưu thông tại làn đường giữa của phần đường một chiều, bên phải đường Nguyễn Văn Cừ, theo hướng từ đường Phạm Văn Đồng đến vòng xuyến Km3 thành phố B, với tốc độ 50 đến 61km/h. Khi đến vòng xuyến Km3, nơi giao nhau giữa đường Nguyễn Văn Cừ, đường Nguyễn Tất Thành và đường Nguyễn Chí Thanh, Bùi M giảm tốc độ 36 đến 41 km/h, mở đèn tín hiệu để chuyển hướng bên phải xe để đi về hướng đường Nguyễn Chí Thanh. Lúc này, chị Nguyễn Thị Hồng H1 điều khiển xe mô tô biển số 47B2-746.76, phía sau xe chở theo cháu là Nguyễn Tuấn K (là con ruột của chị H1) và cháu Nguyễn Phạm Gia N (là cháu ruột của chị H1) lưu thông cùng chiều với xe ô tô của Bùi M. Do Bùi M điều khiển xe ô tô biển số 47C-140.50 chuyển hướng lưu thông thiếu chú ý quan sát, không đảm bảo an toàn nên để phía trước, bên phải xe ô tô biển số 47C-140.50 tông vào phía sau, bên trái xe mô tô biển số 47B2-746.76 làm xe mô tô ngã xuống mặt đường, kẹt dưới gầm phía trước đầu xe ô tô tải, chị H1 và cháu N ngã qua bên phải xuống mặt đường theo hướng đi, cháu K bị bánh sau, bên phải xe ô tô biển số 47C-140.50 cán, chà trên mặt đường, gây ra vụ tai nạn giao thông. Hậu quả: Cháu Nguyễn Tuấn K tử vong tại chỗ, chị Nguyễn Thị Hồng H1 bị thương nặng, cháu Nguyễn Phạm Gia N bị trầy xước nhẹ.

Hiện trường vụ tai nạn giao thông: Là vòng xuyến nơi giao nhau giữa các đường Nguyễn Văn Cừ, đường Nguyễn Tất Thành và đường Nguyễn Chí Thanh, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Đường Nguyễn Văn Cừ là đường đôi, mặt đường rộng 11,20m; có vạch sơn đơn, đứt nét, màu trắng phân chia thành 03 làn đường xe chạy; làn đường trong rộng 3,70m, làn đường giữa rộng 3,60m; có độ dốc lên, độ dốc không lớn; tại khu vực vòng xuyến dải phân cách có độ hở, nơi rộng nhất là 15,00m. Đường Nguyễn Tất Thành và đường Nguyễn Chí Thanh là đường đôi, có dải phân cách cố định xây bằng bê tông phân chia thành hai chiều đường riêng biệt.

Quá trình khám nghiệm hiện trường, lấy mép đường bên phải của phần đường một chiều, bên phải đường Nguyễn Văn Cừ tới vòng xuyến và qua phần đường một chiều, bên phải đường Nguyễn Chí Thanh, tính theo hướng từ vòng xuyến km5 đến Uỷ ban nhân dân xã H làm mép đường chuẩn, các số đo trên hiện trường đều được đo vuông góc vào mép đường chuẩn. Lấy góc dưới, phía trước, bên phải nhà số 03 đường Nguyễn Văn Cừ (tính theo hướng từ trong nhà ra ngoài mặt đường) làm mốc cố định. Lấy hướng Bắc làm hướng chính thể hiện trong sơ đồ hiện trường.

Căn cứ vào vị trí sau cùng của hai phương tiện, các dấu vết tại hiện trường sau vụ tai nạn giao thông và các tài liệu khác đã xác minh, thu thập được, xác định vị trí va chạm giữa xe ô tô biển số 47C-140.50 với xe mô tô biển số 47B2-746.76 tương ứng với mặt đường, trong khu vực vòng xuyến, cách mép đường chuẩn: 6,50m, cách mốc cố định: 16,90m.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số: 17/TTh-TTPY ngày 18/01/2022 của Trung tâm pháp y tỉnh Đắk Lắk kết luận nguyên nhân tử vong của cháu Nguyễn Tuấn Kiệt là: Ngưng hô hấp, ngưng tuần hoàn do Đa chấn thương ngực, bụng nặng/Nhiều thương tích nặng do tai nạn giao thông.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số: 325/TgT-TTPY ngày 05/4/2022 của Trung tâm pháp y tỉnh Đắk Lắk kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của chị H1 là 53%.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 195/2022/HS-ST ngày 18/7/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột đã quyết định:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tuyên bố bị cáo Bùi M phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt bị cáo Bùi M: 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt thi hành án.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn xử lý vật chứng, trách nhiệm dân sự, quyết định án phí và tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 19/7/2022, bị cáo Bùi M có đơn kháng cáo giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.

Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản án hình sự sơ thẩm đã nhận định.

Đại diện Viện kiểm sát đã phân tích, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và cho rằng: Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt bị cáo Bùi M 01 năm 03 tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự là thỏa đáng. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo phạm tội lần đầu với lỗi vô ý, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, sau khi phạm tội đã bồi thường toàn bộ chi phí hợp lý cho bị hại và được bị hại làm đơn bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, đồng thời bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, nên cần chấp nhận kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 65 Bộ luật hình sự. Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Bùi M – Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 195/2022/HS-ST ngày 18/7/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột theo hướng giữ nguyên mức hình phạt tù nhưng cho bị cáo được hưởng án treo.

Bị cáo không tranh luận, bào chữa gì mà chỉ đề nghị Hội đồng chấp nhận kháng cáo của bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phúc thẩm là phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm và phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã đủ căn cứ kết luận:

Vào khoảng 07 giờ 42 phút ngày 18/12/2021, Bùi M điều khiển xe ô tô biển số 47C-140.50 lưu thông đến vòng xuyến Km3, nơi giao nhau giữa các đường Nguyễn Văn Cừ, đường Nguyễn Tất Thành và đường Nguyễn Chí Thanh, phường T, thành phố B. Do Bùi M điều khiển xe ô tô biển số 47C-140.50 chuyển hướng lưu thông về đường Nguyễn Chí Thanh thiếu chú ý quan sát, chuyển hướng qua đường không đảm bảo an toàn nên đã tông vào phía sau, bên trái xe mô tô biển số 47B2-746.76 do chị Nguyễn Thị Hồng H1 điều khiển lưu thông cùng chiều phía sau chở cháu Nguyễn Tuấn K và cháu Nguyễn Phạm Gia N. Hậu quả cháu Nguyễn Tuấn K tử vong và chị Nguyễn Thị Hồng H1 bị thương tích 53%. Hành vi của bị cáo Bùi M bị Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đảm bảo đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng:

Mức hình phạt 01 năm 03 tháng tù mà Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt đối với bị cáo là phù hợp, tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra. Tuy nhiên, bị cáo là người có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, quá trình điều tra và tại phiên tòa thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, cùng với chủ phương tiện thỏa thuận bồi thường toàn bộ chi phí cho bị hại và được bị hại và đại diện hợp pháp của bị hại bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt; ngoài ra bị cáo có bà nội là Nguyễn Thị D được Chủ tịch nước tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng. Xét thấy bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, phạm tội với lỗi vô ý và có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nên không cần thiết phải cách ly ra khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo được hưởng án treo để tự cải tạo dưới sự giám sát, giáo dục của gia đình và chính quyền địa phương thì cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo. Do đó, cần chấp nhận một phần kháng cáo về việc xin hưởng án treo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm về biện pháp chấp hành hình phạt tù có điều kiện.

Về án phí: Do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật tố tụng hình sự - Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Bùi M.

Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 195/2022/HS-ST ngày 18/7/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk về biện pháp chấp hành hình phạt, tù có điều kiện.

[2] Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2, khoản 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự;

Xử phạt bị cáo Bùi M 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.

Giao bị cáo Bùi M cho Ủy ban nhân dân thị trấn E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk là nơi bị cáo cư trú để giám sát và giáo dục.

Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự.

Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự năm 2019.

[3] Về án phí: Bị cáo Bùi M không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ