- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Minh Đ- Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật s…"
- Tòa quyết gì? Điểm b, a khoản 2 Điều 260; các điểm b, q, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 và Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017);
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 41/2017/QH14 Về việc thi hành Bộ luật Hình sự…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƢƠNG Bản án số:232/2020/HS-ST Ngày 18 - 8 - 2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Sỹ Trứ.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Ngọc Hồng.
Bà Huỳnh Ngọc Sƣơng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Công Tứ – Thƣ ký Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Trần Xuân Sỹ- Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 8 năm 2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 220/2020/TLST-HS ngày 28 tháng 7 năm 2020 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 223/2020/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 8 năm 2020 đối với bị cáo:
Nguyễn Minh Đ, sinh năm 1989 tại tỉnh An Giang; nơi cƣ trú: Ấp V, xã V, huyện C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa: 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Hòa Hảo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Điệt và bà Võ Thị Thanh Thúy; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cƣ trú từ ngày 01/01/2020). Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Ngƣời bào chữa cho bị cáo Nguyễn Minh Đ:
Ông Lâm Phú X – Là Luật sƣ Văn phòng luật sƣ P thuộc Đoàn luật sƣ tỉnh Bình Dƣơng. Có mặt
Ông Nguyễn Văn C - Là Luật sƣ Văn phòng luật sƣ H, thuộc Đoàn luật sƣ tỉnh An Giang. Có mặt
Bị hại: Võ Văn H, chết ngày 27/5/2017. Ngƣời đại diện hợp pháp của bị hại: Ông Võ Văn B, sinh năm 1952, nơi cƣ trú: Ấp V, xã V, huyện C, tỉnh An Giang. Có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Công ty TNHH T, trụ sở chính: 289 đƣờng P, Tổ 7, Khu phố 4, phƣờng P, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng. Ngƣời đại diện hợp pháp: Ông Trần Thanh S, sinh năm 1973, nơi cƣ trú: B8/155Ấp 2, xã T, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt
Ông Võ Chí T, sinh năm 1974, nơi cƣ trú: 49D49 Cầu Ô, phƣờng L, Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt
Những người tham gia tố tụng khác:
Người làm chứng: Ông Võ Văn C. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:
Vào khoảng 22 giờ 45 phút ngày 28/05/2017, Nguyễn Minh Đ điều khiển xe mô tô biển số 67C1 – 000.46 chở phía sau ông Võ Văn H, sinh năm 1978, lƣu thông trên đƣờng Mỹ Phƣớc - Tân Vạn theo hƣớng từ ngã 6 An Phú về đƣờng Thủ Khoa Huân. Khi Đƣờng điều khiển xe mô tô lƣu thông đến đoạn đƣờng thuộc khu phố 4, phƣờng An Phú, thị xã Thuận An (nay là thành phố Thuận An), tỉnh Bình Dƣơng thì lấn qua làn đƣờng xe ô tô tải, va chạm vào bên hông phải xe đầu kéo biển số 61H -1179, kéo theo rơ moóc biển số 61R – 005.87 do ông Võ Chí T điều khiển đang lƣu thông cùng chiều trên làn đƣờng dành cho xe ô tô tải. Sau va chạm ông Võ Văn H bị bánh sau bên phải rơ moóc chèn qua ngƣời dẫn đến tử vong tại hiện trƣờng.
Căn cứ Biên bản khám nghiệm hiện trƣờng và khám nghiệm phƣơng tiện xác định:
Hiện trƣờng xảy ra vụ tai nạn giao thông là đoạn đƣờng Mỹ Phƣớc - Tân Vạn thuộc khu phố 4, phƣờng An Phú, thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng. Đoạn đƣờng này đƣợc trải nhựa bằng phẳng, thẳng, không bị che khuất tầm nhìn, chiều lƣu thông bên phải hƣớng từ đƣờng DT 743 về đƣờng Thủ Khoa Huân rộng 11,30m. Làn đƣờng trong cùng sát lề phải rộng 3,6m đƣợc ngăn cách với làn đƣờng ở giữa bằng vạch sơn trắng dài liên tục. Làn đƣờng ở giữa rộng 3,7m đƣợc ngăn cách với làn đƣờng ngoài cùng bằng vạch sơn trắng không liên tục. Làn đƣờng ngoài cùng rộng 4m và đƣợc ngăn cách với phần đƣờng bên trái hƣớng lƣu thông từ đƣờng Thủ Khoa Huân về đƣờng DT 743 bằng dải phân cách cố định bằng bê tông ở giữa đƣờng, dải phân cách có chiều rộng là 2m. Lấy cột biển báo giao thông từ đầu dải phân cách hƣớng ngã tƣ đƣờng Chu Văn An về đƣờng Thủ Khoa Huân làm điểm mốc và lề phải hƣớng từ đƣờng DT 743 về đƣờng Thủ Khoa Huân làm lề chuẩn, tiến hành khám nghiệm hiện trƣờng ghi nhận nhƣ sau:
Xe mô tô biển số 67C1 – 000.46 nằm ngã nghiêng bên trái trên mặt đƣờng, đầu xe hƣớng về đƣờng Thủ Khoa Huân, trục bánh trƣớc cách lề phải 2,4m, trục bánh sau cách lề phải 3,2m, xe mô tô này để lại một vết cày dài 10,2m đầu vết cày cách lề phải 3,9m và cách cột biển báo giao thông là 12,5m.
Nạn nhân Võ Văn H nằm ngửa trên mặt đƣờng đầu nạn nhân quay về hƣớng đƣờng DT 743 và hơi chếch vào lề phải, chân nạn nhân hƣớng về đƣờng Thủ Khoa Huân và hơi chếch vào dải phân cách ở giữa đƣờng. Đầu nạn nhân cách lề phải 4,2m và cách trục bánh sau xe mô tô biển số 67C1-00046 là 1,6m, gót chân phải nạn nhân cách lề phải 2,4m.
Xe ô tô đầu kéo biển số 61H-1179 đỗ trên làn đƣờng dành cho xe ô tô tải, đầu xe hƣớng về đƣờng Thủ Khoa Huân, trục bánh trƣớc bên phải ô tô đầu kéo cách lề phải 5m, trục bánh sau bên phải ô tô đầu kéo cách lề phải 4,9m. Trục bánh sau cùng bên phải sơmi rơmoóc cách lề phải 4,6m và cách trục bánh trƣớc xe mô tô biển số 67C1 - 000.46 là 52.3m. Xe ô tô đầu kéo biển số 61H - 1179 kéo theo sơmi rơmoóc biển số 61R - 005.87 có tổng chiều dài là 16m, chiều rộng là 2,3m, ngoài ra không ghi nhận gì khác.
Xe ô tô đầu kéo biển số 61H- 1179 kéo theo sơmi rơmoóc biển số 61R -005.87: Trên thanh sắt bên hông phải của xe có vết trầy bay bụi KT 9x2,5cm. Tại vị trí trầy bay bụi có dính nhiều chất bùn đất. Góc dƣới phía trƣớc thanh cản bên phải sơmi rơmoóc có vết trầy bay bụi, trầy sơn KT 9x0,5cm. Bánh sau bên phải xe đầu kéo có 02 dấu vết trầy xƣớc màu đỏ trắng dài 3cm cách nhau 7cm.
Xe mô tô hai bánh biển số 67C1 – 000.46: Vỡ gƣơng chiếu hậu trái, bên phải không có gƣơng; trầy đầu nắm tay cầm bên trái KT 2x0,8cm; trầy xƣớc ốp nhựa đầu đen bên trái KT 15x4cm; mài mòn chắn bùn trƣớc bên trái; chắn bùn trƣớc bên trái lệch sang phải, mặt bên trái của chắn bùn bị trầy xƣớc mất lớp sơn màu đỏ; trầy ốp nhựa dầu đèn phía dƣới kính chiếu hậu trái KT 5x1cm, ốp nhựa đầu đèn sút rời, ốp nhựa đồng hồ đo tốc độ bị nứt bể; trầy xƣớc bửng bên trái KT 17x14cm; gác chân trƣớc bên trái cong lên trên, đầu nhựa bọc gác chân bị mài mòn; baga sau bên trái mài mòn KT 7x3cm; góc bên trái biển số xe trầy xƣớc KT 1x0,5cm có dính sơn màu xanh.
Bản kết luận giám định số 18/GD-PC54 ngày 12/7/2017 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dƣơng, về cơ chế hình thành dấu vết giữa xe ô tô đầu kéo biển số 61H - 1179 kéo theo rơmoóc biển số 61R –605.87 và xe mô tô biển số 67C1 – 000.46 xác định: Vị trí va chạm giữa xe mô tô biển số biển số 67C1 – 000.46 và xe đầu kéo biển số 61H – 1179 kéo theo rơmoóc biển số 61R – 005.87 là phần gƣơng chiếu hậu bên trái và đầu nắm tay cầm bên trái của xe mô tô hai bánh biển số 67C1 – 000.46 với phần đầu trƣớc cản hông bên trái (tính từ trƣớc ra sau) của rơmoóc biển số 61R – 005.87 làm xe mô tô ngã xuống đƣờng.
Bản kết luận giám định pháp y tử thi số 436/GD-PCPY ngày 31/5/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dƣơng, kết luận: Nguyên nhân chết của nạn nhân Võ Văn H là do đa chấn thƣơng, choáng đa chấn thƣơng, choáng mất máu, suy hô hấp dẫn đến chết.
Căn cứ phiếu đo nồng độ cồn qua hơi thở bằng máy đo ngày 28/5/2017 của Đội Cảnh sát giao thông Công an thị xã Thuận An, đối với Nguyễn Minh Đƣờng xác định: nồng độ cồn là 0,305mg/l khí thở.
Căn cứ Bản kết luận giám định pháp y tâm thần số 208/KL-VPYTW ngày 07/5/2018 của Viện pháp y tâm thần Trung ƣơng Biên Hòa, kết luận: Về y học: Trƣớc, trong sau khi gây án và hiện nay đƣơng sự Nguyễn Minh Đ bị rối loạn nhân cách và hành vi thực tổn (F07.8/G40-ICD.10). Về năng lực nhận thức và điều khiển hành vi: Tại thời điểm gây án và hiện nay: đƣơng sự Nguyễn Minh Đ bị hạn chế năng lực nhận thức và điều khiển hành vi.
Cáo trạng số 236/CT-VKS-TA ngày 27/7/2020 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng đã truy tố bị cáo Nguyễn Minh Đ về tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đƣờng bộ theo quy định tại các điểm a, b khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017). Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quyết định nhƣ bản cáo trạng đã truy tố và xác định: Về nhân thân: Bị cáo có nhân tốt, phạm tội lần đầu; Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo là ngƣời bị bệnh hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình; đã bồi thƣờng một phần thiệt hại; đại diện hợp pháp của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo đƣợc hƣởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại các các điểm b, q, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Kiểm sát viên đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Minh Đ mức án từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù, cho hƣởng án treo, thời gian thử thách là 05 năm.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội giống nội dung Viện kiểm sát truy tố. Bị cáo đã ăn năn hối cải nên xin đƣợc giảm nhẹ hình phạt để bị cáo có cơ hội làm lại cuộc đời.
Ngƣời bào chữa cho bị cáo luật sƣ Lâm Phú X trình bày: Thống nhất với ý kiến của Kiểm sát viên về tội danh, khung hình phạt. Sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo có trình độ văn hóa thấp, hiện bị cáo còn bị bệnh hạn chế nhận thức điều khiển hành vi nên đề nghị hội đồng xét xử cho bị cáo đƣợc hƣởng án treo để bị cáo có cơ hội làm lại đời.
Ngƣời bào chữa cho bị cáo luật sƣ Nguyễn Văn C trình bày: Về cơ bản thống nhất với ý kiến của Kiểm sát viên. Tuy nhiên, bị cáo bị bệnh hạn chế nhận thức, điều khiển hành vi do bị bệnh về tâm thần. Bị cáo phạm tội do vô ý, phạm tội có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 3 Điều 29 Bộ luật Hình sự miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
Ngƣời đại diện hợp pháp của bị hại trình bày: Cha mẹ bị hại Võ Minh H bỏ nhà đi mất tích từ khi H mới sinh ra, ông bà nội, ngoại cũng không còn, H có 01 ngƣời chị nhƣng cũng bỏ nhà đi từ nhỏ hiện không biết thông tin còn sống hay chết. Hiện nay H chỉ có ngƣời thân duy nhất là ông Võ Văn B là chú ruột. Ông B đại diện cho gia đình mai tang bị hại, không yêu cầu bồi thƣờng gì thêm và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những ngƣời tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Minh Đ đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo phù hợp với các tình tiết nhƣ bản cáo trạng đã truy tố, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trƣờng, sơ đồ hiện trƣờng tai nạn giao thông, phù hợp các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở nhận định: Khoảng 22 giờ 45 phút ngày 28/05/2017, Nguyễn Minh Đ điều khiển xe mô tô biển số 67C1 – 000.46 chở phía sau ông Võ Văn H lƣu thông trên đƣờng Mỹ Phƣớc - Tân Vạn theo hƣớng từ ngã 6 An Phú về đƣờng Thủ Khoa Huân thì chạy lấn qua làn đƣờng dành cho xe ô tô tải, va chạm vào bên hông phải xe đầu kéo biển số 61H -1179, kéo theo rơ moóc biển số 61R – 005.87 do ông Võ Chí T điều khiển đang lƣu thông cùng chiều trên làn đƣờng dành cho xe ô tô tải. Hậu quả làm cho ông Võ Văn H bị bánh sau bên phải rơ moóc chèn qua ngƣời dẫn đến tử vong tại hiện trƣờng.
Bị cáo không có giấy phép lái xe theo quy định và điều khiển xe mô tô có dung tích xi lanh 107 cm3, điều khiển xe mô tô trong tình trạng có nồng độ cồn trong máu là 0,305mg/lít khí thở, đi không đúng làn đƣờng quy định là nguyên nhân gây ra tai nạn giao thông đã vi phạm khoản 8, khoản 9 Điều 8; Điều 13, Điều 59 Luật Giao thông đƣờng bộ và gây hậu quả làm cho ông Võ Văn H chết tại hiện trƣờng nên đủ yếu tố cấu thành tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đƣờng bộ theo quy định tại các điểm a, b khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
Hành vi phạm tội xảy ra vào năm 2017, nay mới đƣợc đƣa ra xét xử nên áp dụng Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội về thi hành Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng ngƣời, đúng tội và đúng pháp luật. Mức đề nghị hình phạt của Kiểm sát viên đối với bị cáo là phù hợp với hành vi bị cáo đã thực hiện.
Lời trình bày của luật sƣ Lâm Phú X là có căn cứ nên hội đồng xét xử chấp nhận.
Lời trình bày của luật sƣ Nguyễn Văn C đề nghị áp dụng khoản 3 Điều 29 Bộ luật Hình sự miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo, lời trình bày này là không có căn cứ, không phù hợp với quy định của pháp luật nên không có căn cứ chấp nhận.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm an toàn giao thông, gây thiệt hại về tính mạng của ngƣời khác, gây ảnh hƣởng cho ngƣời và phƣơng tiện tham gia giao thông đƣờng bộ. Bị cáo nhận thức đƣợc hành vi điều khiển xe mô tô qua làn xe giành cho xe ô tô là trái pháp luật nhƣng nghĩ không xảy ra hậu quả nhƣng thực tế xảy ra tại nạn dẫn đến hậu quả làm cho ngƣời bị hại bị tử vong. Nguyên nhân dẫn đến tai nạn giao thông là do bị cáo chƣa đƣợc học luật giao thông, chƣa có giấy phép lái xe, thiếu kiến thức pháp luật về giao thông và kỹ năng điều khiển xe, điều khiển xe không đúng làn đƣờng quy định, điều khiển xe trong tình trạng có nồng độ cồn trong máu vƣợt quá mức quy định do đó cần áp dụng mức hình phạt tƣơng xứng với tính chất, mức độ, hậu quả tội phạm, có xem xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo thực hiện tội phạm không có tình tiết tăng nặng.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo là ngƣời bị bệnh hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình; sau khi phạm tội đã bồi thƣờng một phần thiệt hại; đại diện hợp pháp của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo đƣợc hƣởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại các các điểm b, q, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xét bị cáo có nhân tốt có địa chỉ cƣ trú rõ ràng, việc bị cáo điều khiển xe và gây ra tai nạn là do bị cáo bị bệnh hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình; bị cáo phạm tội có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có khả năng tự cải tạo, việc không cách ly bị cáo ra ngoài xã hội cũng không gây nguy hiểm nên không cần cách ly bị cáo mà áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự, cho bị cáo đƣợc hƣởng án treo, tạo điều kiện để bị cáo tự cải tạo, giao bị cáo cho chính quyền địa phƣơng nơi cƣ trú giám sát, giáo dục theo quy định pháp luật.
Đối với ông Võ Chí T là ngƣời điều khiển xe ô tô đầu kéo biển số 61H - 1179 kéo theo rơmoóc biển số 61R –605.87, xe đi đúng làn đƣờng nên Cơ quan điều tra không xử lý là đúng quy định của pháp luật.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thƣờng chi phí mai táng cho bị hại và các chi phí khác cho ngƣời đại diện hợp pháp của bị hại tổng số tiền 1.000.000 đồng. Công ty TNHH T đã hỗ trợ chi phí mai táng và các chi phí khác cho bị hại 50.000.000 đồng. Ngƣời đại diện hợp pháp của bị hại, không yêu cầu bồi thƣờng gì thêm và xin giảm nhẹ hình phạt nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
Về xử lý vật chứng:
Đối với ô tô đầu kéo biển số 61H - 1179 kéo theo rơmoóc biển số 61R – 605.87, quá trình điều tra xác định là tài sản của Công ty TNHH T do ông Trần Thanh S đại diện nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho ông S là có căn cứ.
Đối với 01 xe mô tô hai bánh biển số 67C1 – 000.46, quá trình điều tra xác định là tài sản cá nhân của Nguyễn Minh Đ nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho bị bị cáo Đ là có căn cứ.
Về án phí: Bị cáo phạm tội và bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Điểm b, a khoản 2 Điều 260; các điểm b, q, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 và Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017);
- Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
- Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 05 năm 2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hƣớng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo.
- Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội về thi hành Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
1. Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh Đ phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đƣờng bộ.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh Đ 03 (ba) năm tù, cho hƣởng án treo thời gian thử thách là 05 (năm) năm tính từ ngày tuyên án là ngày 18/8/2020. Giao bị cáo Đ cho Ủy ban nhân dân xã Vĩnh Hanh, huyện Châu Thành, tỉnh An Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trƣờng hợp ngƣời đƣợc hƣởng án treo thay đổi nơi cƣ trú thì Ủy ban nhân dân xã Vĩnh Hanh phải thông báo cho Cơ quan thi hành án hình sự huyện Châu Thành, tỉnh An Giang để tiến hành thủ tục theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, ngƣời đƣợc hƣởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ hai lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc ngƣời đƣợc hƣởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hƣởng án treo.
2. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Minh Đ phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, ngƣời vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án đƣợc giao hoặc niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dƣơng; - VKSND thành phố Thuận An; - VKSND tỉnh Bình Dƣơng; - Chi cục THA thành phố Thuận An; - CQCSĐT Công an thành phố Thuận An; - Cơ quan THAHS Công an thành phố Thuận An; - Bị cáo; - Đại diện hợp pháp của bị hại; - Ngƣời bào chữa. - Lƣu: HS, THAHS, AV. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Sỹ Trứ |