vanban.org

Bản án 231/2026/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 6 - Sơn La, tỉnh Sơn La Tuyên án 07/09/2026 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Pùa Láo H phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Không áp dụng hình phạt bổ sung (Phạt tiền) đối với bị cáo. Về vật chứng của vụ án: Căn cứ khoản 1, điểm c khoản 2 Điều 106 BLTTHS: Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) phong bì niêm phong ghi vật chứng còn lại vụ Pùa Láo H, bắt ngày 05/3/2026 (01 mảnh túi nilon màu trắng) Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Pùa Láo H - tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Pùa Láo H phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 15 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 6 - SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 231/2026/HS-ST
Ngày 07-9-2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Vũ Thị Hương.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trịnh Lương Hữu và ông Phạm Quang Tùng.

- Thư ký phiên toà: Bà Phan Thị Lệ Giang - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 6 – Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Sơn La tham gia phiên toà: Ông Đỗ Tràng Dũng - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 9 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 6 - Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 245/2026/TLST-HS ngày 21/8/2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 252/2026/QĐXXST-HS ngày 25/8/2026 đối với bị cáo:

Pùa Láo H, sinh ngày 05/11/2004 tại xã L, tỉnh Sơn La; Nơi cư trú: Bản C, xã L, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hóa (học vấn): 4/12; dân tộc: Mông; giới tính: Nam: tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; đảng phái, đoàn thể: Không; Số CCCD: 014……39; Con ông Pùa Láo P và bà Phàng Thị X; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án; tiền sự: Không.

Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/6/2026 đến nay, có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo Pùa Láo H là bà Trần B – Luật sư thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Sơn La, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 11 giờ 25 phút ngày 10/6/2026, tổ công tác Đồn biên phòng cửa khẩu quốc tế L làm nhiệm vụ tại bản C, xã L tiến hành kiểm tra, bắt quả tang Pùa Láo H đang cất giấu trong túi quần bên trái 01 gói nilon màu trắng bên trong đựng 01 viên nén màu hồng trên bền mặt có ký hiệu WY nghi là Methamphetamine và 01 cục bột màu trắng nghi là Heroine. Căn cứ kết quả kiểm tra, lời khai của Pùa Láo H và các tài liệu có liên quan, Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Pùa Láo H, đồng thời thu giữ, niêm phong vật chứng theo quy định.

Ngày 10/6/2026, Đồn biên phòng cửa khẩu Lóng Sập đã tiến hành test thử ma túy đối với Pùa Láo H. Kết quả Hướng dương tính với chất ma túy. Qua xác minh, Pùa Láo H không thuộc diện nào theo Điều 256a Bộ luật Hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2025.

Cùng ngày tiến hành xác định khối lượng ma túy thu giữ của Pùa Láo H kết quả: 01 viên nén màu hồng có khối lượng 0,1 gam lấy toàn bộ làm mẫu trưng cầu giám định, mẫu có ký hiệu H1. Cục chất bột mày trắng có khối lượng 0,16 gam làm mẫu trưng cầu giám định, mẫu có ký hiệu H2.

Tại kết luận giám định số 992/KL-KTHS ngày 12/6/2026 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Sơn La kết luận: “ Mẫu giám định H gửi giám định là ma túy; Loại Methamphetamine; Khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,1 gam.

- Mẫu gửi giám định ký hiệu H2 là ma túy; và Loại Heroine (Heroin); khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,16 gam”.

Quá trình điều tra, Pùa Láo H khai nhận: Khoảng 09h00 ngày 10/6/2026, H đi bộ từ nhà theo đường mòn lên khu vực đường biên giới thuộc bản C, xã L tìm mua ma túy mang về sử dụng. Đến nơi, H gặp một người đàn ông dân tộc Mông không quen biết, qua trao đổi H đã mua được của người đàn ông đó 01 viên Hồng phiến và 01 cục Heroine được gói bên ngoài gói nilon màu trắng với giá 30.000 đồng. H cất gói ma túy vào túi quần bên trái và đi bộ quay về. Khi đi đến khu vực bản C thì bị tổ công tác đang làm nhiệm vụ phát hiện và bắt quả tang.

Tại bản Cáo trạng số 106/CT- VKSSLA - KV ngày 21 tháng 8 năm 2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Sơn La đã truy tố bị can Pùa Láo H về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự, sửa đổi bổ sung năm 2025.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Sơn La giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Bị cáo Pùa Láo H phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy và đề nghị áp dụng các căn cứ pháp luật xử lý đối với bị cáo như sau:

- Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 38 Bộ luật hình sự, sửa đổi bổ sung năm 2025.

Xử phạt Pùa Láo H từ 03 năm 03 tháng đến 03 năm 09 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

- Về vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 106 BLTTHS đề nghị:

Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) phong bì niêm phong ghi vật chứng còn lại vụ Pùa Láo H, bắt ngày 05/3/2026 (01 mảnh túi nilon màu trắng).

- Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, đề nghị HĐXX miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Sau khi đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm xử lý các vấn đề của vụ án bị cáo hoàn toàn nhất trí với quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát.

Người bào chữa cho bị cáo Pùa Láo H trình bày: Bị cáo Pùa Láo H là người dân tộc thiểu số, sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn nên trình độ nhận thức pháp luật còn hạn chế, bị cáo phạm tội lần đầu. Sau khi phạm tội bị cáo Pùa Láo H đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, khối lượng ma túy bị cáo tàng trữ không lớn. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng các tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cho bị cáo và xử phạt bị cáo với mức án 36 đến 42 tháng tù để bị cáo sớm được trở về địa phương, cải tạo lỗi lầm, trở thành người có ích cho gia đình và xã hội.

Đồng thời, đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo và cho bị cáo được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Xin được giảm nhẹ mức hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Sơn La, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh: Tại phiên tòa bị cáo Pùa Láo H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã khai tại cơ quan Điều tra, số ma túy bị tổ công tác thu giữ có nguồn gốc của bị cáo mua của một người đàn ông không quen biết với giá 30.000 đồng vào ngày 10/6/2026, mục đích để sử dụng. Lời khai của bị cáo không có nội dung gì thay đổi so với lời khai tại Cơ quan điều tra.

Xét lời khai của bị cáo là hoàn toàn tự nguyện phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang; biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; biên bản mở niêm phong xác định khối lượng lấy mẫu giám định; kết luận giám định; lời khai của người chứng kiến và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Pùa Láo H là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được tác hại của ma túy nhưng do có nhu cầu sử dụng ma túy nên ngày 10/6/2026 bị cáo Pùa Láo H đã có hành vi tàng trữ 0,1 gam, loại Methamphetamine và 0,16 gam, loại Heroine nhằm mục đích để sử dụng.

Pùa Láo H tàng trữ hai chất ma túy, căn cứ Điều 4 Nghị định số 19 ngày 02 tháng 02 năm 2018 của Chính phủ quy định về việc tính tổng khối lượng chất ma túy tại một số điều của Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 8 Nghị định số: 184/2025/NĐ-CP ngày 01/7/2025 quy định phân định thẩm quyền khi tổ chức chính quyền địa phương 02 cấp và sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định của Chính phủ trong lĩnh vực an ninh, trật tự, tổng khối lượng của hai chất Methamphetamine và Heroine của Pùa Láo H là: 0,1 gam Methamphetamine + 0,16 gam Heroine = 0,26 gam.

Hành vi phạm tội của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự, sửa đổi, bổ sung năm 2025 quy định mức hình phạt tù từ 03 năm đến 05 năm.

Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma tuý, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, áp dụng thêm tình tiết bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống tại khu vực miền núi, có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn nên nhận thức pháp luật có nhiều hạn chế là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xét thấy, quá trình sinh sống tại địa phương, bị cáo trình bày có được tuyên truyền, giải thích về tác hại của ma túy và việc Nhà nước nghiêm cấm mua bán, tàng trữ, vận chuyển chất ma túy. Do đó, không có cơ sở để Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của người bào chữa về việc áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu là đối tượng sử dụng chất ma túy.

Từ những đánh giá nêu trên Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng cải tạo, giáo dục đối với bị cáo, đồng thời mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung (phạt tiền): Quá trình điều tra và thẩm vấn công khai tại phiên tòa hôm nay thấy rằng bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, bị cáo không có tài sản gì có giá trị, do đó, không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo là phù hợp.

Về vật chứng, xử lý vật chứng: Đối với 01 (Một) phong bì niêm phong ghi vật chứng còn lại vụ Pùa Láo H, bắt ngày 05/3/2026 (01 mảnh túi nilon màu trắng), xét thấy, đây là vật không có giá trị sử dụng. Căn cứ khoản 1, điểm c khoản 2 Điều 106 BLTTHS cần tịch thu tiêu hủy.

Về các vấn đề khác:

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Pùa Láo H: Kết quả điều tra xác định H không thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 256a của Bộ luật Hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2025. Ngày 11/6/2026, Đồn biên phòng cửa khẩu quốc tế L đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Pùa Láo H.

Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho bị cáo Pùa Láo H như bị cáo khai, quá trình điều tra không xác định được lai lịch, địa chỉ. Do đó, không có căn cứ để điều tra, làm rõ và xử lý.

Về án phí: Bị cáo Pùa Láo H là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, gia đình bị cáo thuộc hộ cận nghèo, tại phiên tòa bị cáo xin được miễn án phí. Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Về thời hạn tạm giam: Xét thấy thời hạn tạm giam của bị cáo còn lại dưới 45 ngày, do đó, Hội đồng xét xử quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo cho việc thi hành án.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo các Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 38 Bộ luật hình sự, sửa đổi, bổ sung năm 2025.

Tuyên bố: Bị cáo Pùa Láo H phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Xử phạt bị cáo Pùa Láo H 42 (Bốn mươi hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo tính từ ngày 10/6/2026.

Không áp dụng hình phạt bổ sung (Phạt tiền) đối với bị cáo.

2. Về vật chứng của vụ án: Căn cứ khoản 1, điểm c khoản 2 Điều 106 BLTTHS: Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) phong bì niêm phong ghi vật chứng còn lại vụ Pùa Láo H, bắt ngày 05/3/2026 (01 mảnh túi nilon màu trắng)

3. Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

4. Về quyền kháng cáo bản án: Căn cứ các Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Cỡ chữ