- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015…"
- Tòa quyết gì? [1] Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng tiền án phí và lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 231/2021/HSPT Ngày 22/9/2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Văn Tú
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Duy Thuấn, ông Nguyễn Văn Bằng
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Nguyên - Thư ký TAND tỉnh Đắk Lắk;
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Bích Thủy - Kiểm sát viên;
Ngày 22/9/2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 223/2021/HSPT, ngày 16 tháng 8 năm 2021, do Bản án hình sự sơ thẩm số 201/2021/HSST ngày 07/7/2021, của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột bị kháng cáo, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 244/2021/QĐXXPT
- HS, ngày 10/9/2021.
Bị cáo có kháng cáo:
Họ và tên: Đoàn Hoàng A; sinh năm 1986 tại tỉnh Đắk Lắk; nơi cư trú: 45/22 NVX, phường TT, thành phố BMT, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: không; trình độc học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đoàn Hồng H (đã chết) và bà Đỗ Thị L; có vợ là Phạm Thị N và 02 con, con lớn sinh năm 2015, con nhỏ sinh năm 2017; tiền án: không;
Tiền sự: Ngày 08/01/2019, bị Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời hạn 14 tháng. Ngày 13/01/2020, chấp hành xong quyết định trở về địa phương sinh sống.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/01/2021 đến ngày 24/01/2021 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú – có mặt.
* Ngoài ra trong vụ án còn có 01 bị cáo khác nhưng không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Đoàn Hoàng A và Phan Thành S là đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy loại Methamphetamine (hay còn gọi là ma túy đá). Quá trình sử dụng ma túy, Hoàng A quen biết 01 người tên là H (không rõ nhân thân, lai lịch) là đối tượng bán ma túy đá. Vào khoảng 17 giờ 00 ngày 13/01/2021, Hoàng A dùng điện thoại kiểu dáng Vetur màu đen gắn sim số thuê bao xxxxxxxxxx gọi H qua số điện thoại xxxxxxxxxx hỏi mua 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) ma túy đá thì H đồng ý và hẹn gặp tại khu vực chợ nhỏ thuộc phường TT, thành phố BMT. Sau đó, Hoàng A đến điểm hẹn và mua của H 02 gói ma túy đá với số tiền 5.000.000 đồng (năm triệu đồng). Sau khi mua được ma túy, Hoàng A mang về nhà tại 45/22 NVX, phường TT, thành phố BMT cất giấu. Khoảng 17 giờ 00 ngày 14/01/2021, Phan Thành S đến nhà của Hoàng A chơi, tại đây Hoàng A lấy 01 nỏ và chai nhựa (công cụ sử dụng ma túy) bỏ một ít ma túy ra để cùng S sử dụng. Đến 22 giờ 30 cùng ngày, Hoàng A đưa 02 gói ma túy đá cho S cầm còn Hoàng A điều khiển xe ôtô biển kiểm soát 47A - 377.02, màu xám chở S đi về rẫy nhà S tại xã E, thành phố BMT, tỉnh Đắk Lắk để tiếp tục sử dụng ma túy. Khi đi đến trước số 02 MHĐ, phường TT, thành phố BMT, tỉnh Đắk Lắk thì bị Đội Cảnh sát giao thông trật tự phát hiện, bắt quả tang Đoàn Hoàng A và Phan Thành S về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy, thu giữ trong lưng quần phía trước S đang mặc 02 gói nylon chứa chất rắn dạng tinh thể (Hoàng A và S khai nhận là ma túy đá để sử dụng được niêm phong theo quy định pháp luật).
Theo bản kết luận giám định số 116/GĐMT-PC09 ngày 22/01/2021, của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Lắk kết luận: Chất rắn dạng tinh thể màu trắng đựng trong 02 (một) gói nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 9,4051 gam, loại Methamphetamine;
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 201/2021/HSST ngày 07/7/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk quyết định:
Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249; khoản 1 Điều 255; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tuyên bố bị cáo Đoàn Hoàng A phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: Bị cáo Đoàn Hoàng A: 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và 02 (hai) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự năm 2015, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của cả hai tội là 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án. Được khấu trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/01/2021 đến ngày 24/01/2021.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định hình phạt đối với bị cáo Phan Thành S, quyết định xử lý vật chứng theo quy định pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo Đoàn Hoàng A có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo giữ nguyên kháng cáo và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đã thực hiện như nội dung bản án đã nêu.
Đại diện Viện kiểm sát đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và khẳng định Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội. Xét mức hình phạt 05 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và 02 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” mà Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt bị cáo là thỏa đáng, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội do các bị cáo gây ra. Toà án cấp sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ để xác định: Ngày 13/01/2021, bị cáo Đoàn Hoàng A đã mua của đối tượng H (không rõ nhân thân lai lịch) 5.000.000 đồng ma túy đá rồi mang về nhà. Tại đây, Hoàng A đã chuẩn bị dụng cụ sử dụng ma túy (nỏ và chai nhựa) rồi cùng Phan Thành S sử dụng một ít. Đến khoảng 22 giờ 30 phút cùng ngày, Hoàng A cùng S mang theo số ma túy còn lại đi về rẫy nhà S thì bị Công an bắt giữ, tịch thu 9,4051 gam Methamphetamine. Như vậy, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Đoàn Hoàng A về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự là đúng pháp luật.
Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Đoàn Hoàng A, Hội đồng xét xử nhận thấy: Sau khi phạm tội, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo đã tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm; đã từng tham gia phục vụ Quân đội nhân dân Việt Nam. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo đối với tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” nhằm thể hiện tính khoan hồng, nhân đạo của pháp luật.
Về án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo được chấp nhận bên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không xem xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng tiền án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đoàn Hoàng A, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 201/2021/HSST ngày 07/7/2021, của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk về hình phạt.
[2] Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249; khoản 1 Điều 255; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xử phạt: Bị cáo Đoàn Hoàng A 05 (năm) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và 02 (hai) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự năm 2015, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của cả hai tội là 07 (bảy) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án. Được khấu trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/01/2021 đến ngày 24/01/2021.
[3] Về án phí: Bị cáo Đoàn Hoàng A không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[4] Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND Tối cao; - TAND cấp cao tại Đà Nẵng; - VKSND tỉnh Đắk Lắk; - VP CSĐT Công an tỉnh Đắk Lắk; - Sở tư pháp tỉnh Đắk Lắk; - Trại tạm giam Công an tỉnh Đắk Lắk; - TAND Tp. Buôn Ma Thuột; - VKSND Tp. Buôn Ma Thuột; - Công an Tp. Buôn Ma Thuột; - Cơ quan THAHS Tp. BMT; - CC THA DS Tp. BMT; - Bị cáo; - Những người tham gia tố tụng khác; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Vũ Văn Tú |