vanban.org

Bản án 231/2019/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 01/10/2019 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 01/10/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị H.

Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 38/2019/HS-ST ngày 16 tháng 7 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện QX, tỉnh T. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị H phạm tội đánh bạc. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị H - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị H.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 321 Bộ luật Hình sự; Điều 351 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 231/2019/HS-PT
Ngày 01-10-2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Quốc Bảo

Các Thẩm phán:

Ông Phạm Văn Long

Bà Lê Thị Dung

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Kim Oanh – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa:

Bà Lê Thị Ngọc Hà - Kiểm sát viên.

Ngày 01 tháng 10 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 198/2019/TLPT-HS ngày 22 tháng 8 năm 2019 đối với bị cáo Nguyễn Thị H do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 38/2019/HS-ST ngày 16 tháng 7 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện QX, tỉnh T.

- Bị cáo có kháng cáo:

Nguyễn Thị H, sinh năm 1983, tại xã QT, huyện QX, tỉnh T; nơi cư trú tại thôn T, xã QT, huyện QX, tỉnh T; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn) lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn L và bà Phạm Thị N; có chồng đã ly hôn và 2 con; tiền án: Ngày 29 tháng 7 năm 2016 bị Tòa án nhân dân huyện QX xử phạt 6.000.000 (Sáu triệu) đồng về tội đánh bạc, ngày 15 tháng 10 năm 2018 mới chấp hành xong hình phạt tiền; tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ từ ngày 29 tháng 9 năm 2018 đến ngày 05 tháng 10 năm 2018 được thay thế bằng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Vắng mặt tại phiên tòa (xin xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 29 tháng 09 năm 2018, Nguyễn Văn T thuê địa điểm là nhà của Bùi Sỹ V tại thôn T, xã QT, huyện QX, tỉnh T để đánh bạc, hai bên thỏa thuận có trả tiền thuê nhà là 500.000 (Năm trăm ngàn) đồng, sau đó Nguyễn Văn T rủ người đến đánh bạc bằng hình thức đánh bài 3 cây cầm chương, người thua trả tiền cho người thắng, Nguyễn Văn T đồng thời là người chuẩn bị chiếu, bài, quy định cách chơi và thu tiền hồ, có 11 (Mười một) người tham gia đánh bạc trong đó có bị cáo Nguyễn Thị H; đến khoảng 16 giờ 40 phút cùng ngày 29 tháng 9 năm 2018 thì bị Công an huyện QX bắt quả tang. Tổng số tiền các bị cáo dùng đánh bạc là 20.350.000 (Hai mươi triệu, ba trăm năm mươi ngàn) đồng, trong đó số tiền bị cáo Nguyễn Thị H dùng đánh bạc là 2.450.000 (Hai triệu, bốn trăm năm mươi ngàn) đồng.

Trong quá trình tiến hành tố tụng tại cấp sơ thẩm, Nguyễn Văn T bỏ trốn, cơ quan Điều tra quyết định truy nã và tách vụ án để xử lý sau đối với Nguyễn Văn T.

Trong quá trình tiến hành tố tụng tại cấp sơ thẩm bị cáo Nguyễn Thị H thành khẩn khai báo và xác định bị cáo là con thương binh.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 38/2019/HS-ST ngày 16 tháng 7 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện QX, tỉnh T, đã áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 58 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo 6 (Sáu) tháng 15 (Mười lăm) ngày tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt giam thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 29 tháng 9 năm 2018 đến ngày 05 tháng 10 năm 2018.

Ngoài ra Bản án còn quyết định tội danh, hình phạt đối với các bị cáo khác và tuyên xử lý vật chứng, án phí, quyền kháng cáo của bị cáo.

Ngày 18 tháng 7 năm 2019, bị cáo Nguyễn Thị H kháng cáo xin được hưởng án treo với lý do mức án đối với bị cáo quá nặng, bị cáo đã ly hôn chồng, là lao động chính trong gia đình, phải nuôi các con nhỏ và bố mẹ già, có bố là thương binh lại bị nhiễm chất độc màu da cam.

Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo xin xử vắng mặt do trở ngại khách quan.

Tại phiên tòa phúc thẩm đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa có quan điểm như sau:

Về tố tụng: Bị cáo Nguyễn Thị H xin xử vắng mặt vì trở ngại khách quan và sự vắng mặt của bị cáo không gây trở ngại cho việc xét xử phúc thẩm; căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 351 của Bộ luật tố tụng hình hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử phúc thẩm theo quy định chung.

Về Nội dung: Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 06 (Sáu) tháng 15 (Mười lăm) ngày tù về tội đánh bạc theo định tại khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật hình sự là tương xứng với tính chất, mức độ và hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, nhân thân và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, hình phạt áp dụng đối với bị cáo không nặng; bị cáo có nhân thân xấu đang có tiền án về tội đánh bạc, chưa được xóa án tích lại tiếp tục phạm tội vì vậy không đủ điều kiện để cho bị cáo hưởng án treo; Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bị cáo; giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 38/2019/HS-ST ngày 16 tháng 7 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng:

Kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị H được làm trong thời hạn luật định là hợp lệ nên được chấp nhận để xét xử theo trình tự phúc thẩm.

Bị cáo Nguyễn Thị H xin xử vắng mặt. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo vắng mặt vì trở ngại khách quan và sự vắng mặt của bị cáo không gây trở ngại cho việc xét xử, do vậy Hội đồng xét xử tiến hành xét xử phúc thẩm vụ án hình sự theo quy định chung

Về tội danh và hình phạt:

Khoảng từ 13 giờ 30 phút đến 16 giờ 40 phút ngày 29 tháng 9 năm 2018, tại nhà của bị cáo Bùi Sỹ V ở thôn T, xã QT, huyện QX, tỉnh Thanh Hóa, bị cáo Nguyễn Thị H đánh bạc bằng hình thức đánh bài 3 cây cầm chương, được thua bằng tiền với các bị cáo khác, tổng số tiền đánh bạc là 20.350.000 (Hai mươi triệu, ba trăm năm mươi ngàn) đồng, trong đó số tiền bị cáo Nguyễn Thị H dùng đánh bạc là 2.450.000 (Hai triệu, bốn trăm năm mươi ngàn) đồng. Hành vi của bị cáo Nguyễn Thị H thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm an toàn, trật tự công cộng, trực tiếp xâm phạm trật tự nếp sống văn minh của xã hội; Tòa án cấp sơ thẩm tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị H phạm tội đánh bạc theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Đồng thời Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ vào các quy định của Bộ luật hình sự, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo có tiền án, bị cáo có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm, có các tình tiết giảm nhẹ trách niệm hình sự là thành khẩn khai báo, có bố là tH binh, để quyết định xử phạt bị cáo 06 (Sáu) tháng 15 (Mười lăm) ngày tù, hình phạt áp dụng đối với bị cáo là không nặng.

Xét nội dung kháng cáo:

Bị cáo Nguyễn Thị H kháng cáo cho rằng hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng đối với bị cáo là nặng và xin được hưởng án treo với lý do bị cáo đã ly hôn chồng, là lao động chính trong gia đình, phải nuôi các con nhỏ và bố mẹ già, có bố là thương binh lại bị nhiễm chất độc màu da cam.

Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng hình phạt áp dụng đối với bị cáo là không nặng; các tình tiết bị cáo đã ly hôn chồng, là lao động chính trong gia đình, phải nuôi các con nhỏ và bố mẹ già, có bố là thương binh lại bị nhiễm chất độc màu da cam; các tình tiết này đã được Tòa án cấp sơ thẩm xem xét áp dụng.

Bị cáo Nguyễn Thị H có nhân thân xấu, đang có tiền án, có hai tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự; có một tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52; như vậy số tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự không nhiều hơn số tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự từ 02 tình tiết trở lên; Như vậy điều kiện về nhân thân và điều kiện về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo không đáp ứng được điều kiện để được hưởng án treo theo quy định của pháp luật; do vậy kháng cáo của bị cáo sẽ không được chấp nhận, cần giữ nguyên Bản án sơ thẩm.

Án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm vì yêu cầu kháng cáo của bị cáo không được chấp nhận.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 351, điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị H.

Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 38/2019/HS-ST ngày 16 tháng 7 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện QX, tỉnh T.

Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị H phạm tội đánh bạc.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị H 06 (Sáu) tháng 15 (Mười lăm) ngày tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt giam thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 29 tháng 9 năm 2018 đến ngày 05 tháng 10 năm 2018.

Án phí:

Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Bị cáo Nguyễn Thị H phải chịu 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm số 38/2019/HS-ST ngày 16 tháng 7 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện QX, tỉnh T không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ