- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T 20( hai mƣơi) tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀNG MAI TP. HÀ NỘI -------- | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 231/2018/HS - ST Ngày: 23/8/2018 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀNG MAI - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà:
Bà Trần Thị Kim Cúc
Các Hội thẩm nhân dân :
1. Bà Trần Thị Minh
2. Ông Nguyễn Sơn Hóa
Thư ký phiên tòa:
Bà Đỗ Thị Minh Hiếu
- Thư ký Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai
Đại diện VKSND quận Hoàng Mai - TP Hà Nội tham gia phiên tòa:
Bà Phạm Thị Nhung - Kiểm sát viên
Ngày 23 tháng 8 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Hoàng Mai - thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 238/2018/HSST ngày 01/8/2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 246/2018/QĐXXST - HS ngày 09/8/2018 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn T, sinh năm 1968; Nơi ĐKNKT và chỗ ở : Thôn C, xã BM, huyện T, Hà Nội; Nghề nghiệp: tự do; Trình độ văn hoá: 07/10; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn T ( chết) và bà Nguyễn Thị P; có vợ là Nguyễn Thị T và 03 con sinh năm 1991,1993, 1997; Tiền án: không; Tiền sự: 01 vào năm 2012 đi cai nghiện bắt buộc về năm 2014. Bị bắt quả tang, tạm giữ từ ngày 23/4/2018; Danh chỉ bản số 404 lập ngày 26/4/2018 tại Công an quận Hoàng Mai; Bị cáo hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam số 2 Công an TP Hà Nội (có mặt).
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
Chị Nguyễn Thị T – sinh năm 1972
HKTT và chỗ ở: Thôn C, xã BM, huyện T, Hà Nội.
( có mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 16h15 ngày 23/4/2018, tại khu vực Miếu Gàn phố Linh Đường, phường Hoàng Liệt, quận Hoàng Mai, Hà Nội. Tổ công tác công an phường HL bắt quả tang Nguyễn Văn T có hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy, thu giữ ở lòng bàn tay phải của T 01gói nilon bên trong chứa chất bột màu trắng. Tại chỗ, T khai nhận là ma túy heroin mua về để sử dụng. Ngoài ra tổ công tác còn thu giữ của T 01 điện thoại di động nhãn hiệu Viettel vỏ máy màu bạc, Imei 1: 351580077953764, Imei 2: 351580077953772; 01 xe máy nhãn hiệu Honda Dream BKS: 33N1- 6872, số máy: HE08E-0763943, số khung: RLHHA08025Y763845 đã qua sử dụng. Tổ công tác đã lập biên bản đưa T cùng tang vật về trụ sở Công an phường để điều tra làm rõ.
Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Văn T khai nhận: Khoảng 16h ngày 23/4/2018, T đi xe máy BKS 33N1- 6872 đến khu vực cổng C1 Bến xe nước ngầm mua của một người đàn ông không quen biết 01 túi heroin với giá 150.000 đồng. Mua xong, T cầm gói ma túy mua được ở tay và lái xe đi tìm nơi sử dụng. Khi T đi đến khu vực Miếu Gàn, phố Linh Đường, Hoàng Liệt, Hoàng Mai, Hà Nội thì bị công an kiểm tra bắt quả tang cùng tang vật.
Theo kết luận giám định số 3851/PC54 ngày 03/5/2018 của phòng kỹ thuật hình sự công an TP Hà Nội kết luận: Chất bột trắng bên trong 01 túi nilon là ma túy loại heroin, khối lượng 0,264 gam.
Cơ quan điều tra đã dẫn giải T đến chỗ T mua ma túy nhưng không xác định được người bán ma túy cho T nên không có căn cứ để xử lý.
Đối với chiếc xe máy Honda Dream BKS 33N1-6872, qua xác minh là xe máy của chị Nguyễn Thị T( sinh năm 1972) là vợ của T. Chị T mua xe để cả nhà sử dụng chung và nhờ chị Nguyễn Thị Hồng V( sinh năm: 1976 số số 3 MT, NTL, Hà Nội) đứng tên đăng ký, ngày 23/4/2018, T lấy xe máy đi mua ma túy chị T không biết.
Đối với chiếc điện thoại Viettel thu giữ của T, T khai là điện thoại của T liên lạc cá nhân không liên quan đến vụ án.
Bản cáo trạng số 236/CT - VKS ngày 23/7/2018 của Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017
Tại phiên toà:
* Bị cáo Nguyễn Văn T thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nêu trên, thừa nhận Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai truy tố bị cáo là đúng, không oan, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là chị Nguyễn Thị T trình bày: chiếc xe máy Honda Dream BKS 33N1-6872 là của chị bỏ tiền mua từ tháng 8 năm 2005 nhưng do lúc đó chị chưa có giấy phép lái xe nên không đăng ký xe được mà chị phải nhờ em gái chị là Nguyễn Thị Hồng V đứng tên hộ. Chị mua xe về để đi. Việc chồng chị là Nguyễn Văn T lấy xe của chị để đi mua ma túy chị không biết. Nay chị có đề nghị xin lại chiếc xe máy trên.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai giữ nguyên quan điểm đã truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử :
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm c khoản 1 điều 47, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Xử phạt bị cáo mức án từ 18 đến 20 tháng tù.
- Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- Tịch thu tiêu hủy 0,264 gam ma túy loại heroin.
- Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Viettel vỏ máy màu bạc, Imei 1: 351580077953764, Imei 2: 351580077953772 do không liên quan đến ma túy.
- Trả lại cho chị Nguyễn Thị 01 xe máy nhãn hiệu Honda Dream BKS: 33N1- 6872, số máy: HE08E-0763943, số khung: RLHHA08025Y763845 đã qua sử dụng do không liên quan đến ma túy.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Hoàng Mai, Điều tra Viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra phù hợp với lời khai của bị cáo tại phiên tòa, phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Kết luận giám định có đủ cơ sở xác định: Khoảng 16h15 ngày 23/4/2018, tại khu vực Miếu gàn phố Linh Đường, Hoàng Liệt, Hoàng Mai, Hà Nội, Nguyễn Văn T đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,264 gam heroin với mục đích sử dụng cho bản thân. Hành vi của bị cáo đã phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại điểm c khoản 1 điều 249. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai truy tố bị cáo ra trước Tòa án để xét xử theo tội danh và điều luật đã viện dẫn là có căn cứ pháp lý.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm sự độc quyền quản lý các chất ma túy của nhà nước. Ma túy là chất gây nghiện huỷ hoại sức khoẻ con người, làm sói mòn đạo đức xã hội và là nguyên nhân gây ra các tội phạm hình sự khác, ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội.
Về nhân thân bị cáo chưa có tiền án và 01 tiền sự đi cai nghiện bắt buộc về năm 2014, chứng tỏ bị cáo đã được cơ quan pháp luật giáo dục nhưng không chịu cải tạo bản thân trở thành công dân tốt mà vẫn tiếp tục tái nghiện để tiếp tục phạm tội nghiêm T. Do đó, cần thiết phải xử lý nghiêm, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho mọi người.
Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt bổ sung của bị cáo: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử đã xem xét việc bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải để áp dụng điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Xét bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. [4] Về xử lý vật chứng của vụ án và các vấn đề khác : Tang vật của vụ án là 01 bì giấy bên trong chứa 0,264 gam heroin là vật cấm lưu hành nên cho tịch thu tiêu hủy ; Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Viettel vỏ máy màu bạc, Imei 1: 351580077953764, Imei 2: 351580077953772 không liên quan đến việc mua bán ma túy; Trả lại cho chị Nguyễn Thị T 01 xe máy nhãn hiệu Honda Dream BKS: 33N1- 6872, số máy: HE08E-0763943, số khung: RLHHA08025Y763845 đã qua sử dụng là tài sản của chị T, chị Tkhông biết T lấy xe máy đi mua ma túy.
Đối với người đàn ông bán ma túy cho bị cáo T, quá trình điều tra cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Hoàng Mai không xác định được danh tính nên không có căn cứ xử lý, do vậy Hội đồng xét xử không xét.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo được kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: điểm c khoản 1 Điều 249 ; điểm s khoản 1 Điều 51 ; điểm c khoản 1 Điều 47; điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
Căn cứ: §iÒu 106, §iÒu 136; §iÒu 331; §iÒu 333 Bé luËt tè tông H×nh sù 2015; §iÒu 23 nghÞ quyÕt 326/2016/UBTVQH14 ngµy 30/12/2016 vÒ ¸n phÝ lÖ phÝ Toµ ¸n; Môc 1 phÇn I Danh môc ¸n phÝ Toµ ¸n.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T 20( hai mƣơi) tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.Thời hạn tù tính từ ngày 23/4/2018.
Hình phạt bổ sung : Miễn phạt tiền cho bị cáo.
Xử lý vật chứng:
- Tịch thu tiêu hủy 0,264 gam heroin trong bao niêm phong có chữ ký của giám định viên và bị cáo.
- Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Viettel, đời máy V6216 vỏ máy màu bạc, Imei 1: 351580077953764, Imei 2: 351580077953772.
- Trả lại cho chị Nguyễn Thị T 01 xe máy nhãn hiệu Honda Dream BKS: 33N1- 6872, số máy: HE08E-0763943, số khung: RLHHA08025Y763845 đã qua sử dụng.
( Vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại kho vật chứng Chi cục thi hành án dân sự quận Hoàng Mai theo phiếu nhập kho vật chứng số 248/2018 ngày 25/7/2018.)
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Viện kiểm sát nhân dân TP Hà Nội; - Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai, TP Hà Nội; - Công an quận Hoàng Mai , TP Hà Nội; - Cơ quan Thi hành án hình sự quận Hoàng Mai, TP Hà Nội; - Chi cục Thi hành án dân sự quận Hoàng Mai, TP Hà Nội; - Trại tạm giam số 2 - Bị cáo. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Đã ký Trần Thị Kim Cúc |