vanban.org

Bản án 231/2017/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ngô Ánh K xin ly hôn với Hồ Lê Kh"
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐẦM DƠI -TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 231/2017/HNGĐ-ST
Ngày 22-12-2017
V/v tranh chấp Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU

- Thaønh phaàn Hoäi ñoàng xeùt xöû sơ thẩm goàm coù:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Liêu Chí Khanh.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Hiển.

Bà Phạm Thị Hà.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ánh Hồng là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau.

Ngày 22 tháng 12 năm 2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 383/2017/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 10 năm 2017 về việc tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 361/2017/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 11 năm 2017 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Ngô Ánh K, sinh năm 1988; địa chỉ: Ấp H, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau (Có mặt).

- Bị đơn: Anh Hồ Lê Kh, sinh năm 1985; địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Chị Ngô Ánh K trình bày: Chị với anh Hồ Lê Kh tổ chức đám cưới và đăng ký kết hôn ngày 06/3/2014 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện Đ. Vợ chồng có hơn 1 năm chung sống hạnh phúc thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn chủ yếu là do anh Kh không lo làm ăn mà cờ bạc dẫn đến kinh tế gia đình gặp khó khăn. Chị và gia đình hai bên nhiều lần khuyên bảo, nhưng anh Kh không sửa đổi, nên chị sống ly thân với anh Kh gần một năm nay. Hiện tại chị không còn thường anh Kh, nên xin được ly hôn. Thời gian chung sống anh, chị không có con chung, không có tài sản chung và nợ chung.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án cho anh Hồ Lê Kh, hai lần thông báo hòa giải và hai lần triệu tập xét xử nhưng anh Kh không có văn bản phản đối yêu cầu khởi kiện của chị K, không tham gia hòa giải và xét xử.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Anh Hồ Lê Kh đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Về hôn nhân: Chị K xin ly hôn với những mâu thuẫn đã khai nêu trên, nhưng anh Kh không phản đối. Anh cũng không mong muốn được hàn gắn, thể hiện qua việc Tòa án nhiều lần triệu tập hòa giải và xét xử, anh đều vắng mặt. Từ đó cho thấy quan hệ hôn nhân của anh chị đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không còn đạt được, nên cần chấp nhận yêu cầu của chị K, cho chị K được ly hôn với Kh theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

Anh, chị không có con chung, tài sản chung và nợ chung nên Tòa án không xem xét giải quyết các mối quan hệ này.

Án phí hôn nhân gia đình chị Ngô Ánh K phải chịu theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYEÁT ÑÒNH:

Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự; Áp dụng khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Ngô Ánh K. Cho chị Ngô Ánh K được ly hôn với anh Hồ Lê Kh.

2. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị Ngô Ánh K phải chịu là 300.000 đồng. Chị K đã nộp 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí hôn nhân sơ thẩm tại biên lai thu tiền số 0009171 ngày 13/10/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đầm Dơi, chị K đã nộp đủ án phí hôn nhân sơ thẩm.

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ