vanban.org

Bản án 230/2026/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Huỳnh Văn H phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.

1/ Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1 Điều 51của Bộ luật hình sự năm 2015. 2/ Xử phạt: Bị cáo Huỳnh Văn H 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính ngày 07 tháng 8 năm 2025. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Huỳnh Văn H - sản xuất, buôn bán hàng cấm (điều 190 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Huỳnh Văn H phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 1 – ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 230/2026/HS-ST
Ngày 22-4-2026
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Hướng

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Huỳnh Thị Minh Huệ

Bà Nguyễn Thị Kim Chi

- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Hoàng Long – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 1 – Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Đồng Nai, tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Vân Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 4 năm 2026, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1 – Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 64/2026/HSST ngày 30/01/2026, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 174/2026/QĐXX ST-HS ngày 13 tháng 3 năm 2026 đối với bị cáo:

HUỲNH VĂN H, sinh năm 1963, tại TP .

Nơi cư trú: 7, khu phố Q, phường T, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 3/12; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; Con ông: Huỳnh Văn T và bà Lê Thị T1; bị cáo có vợ tên là Nguyễn Thị Ngọc T2 (đã ly hôn) và có 04 con chung; Hiện nay bị cáo kết hôn với bà Văn Thị M và không có con; Tiền án, tiền sự: Không có;

Bị cáo bị giam giữ ngày 07/8/2025 tại phân trại tạm giam Tân Triều.

* Người làm chứng:

- Bà Văn Thị M, sinh năm 1963

Địa chỉ: 7 H, khu phố Q, phường T, tỉnh Đồng Nai.

- Bà Văn Thị D, sinh năm 1959

Địa chỉ: A, khu phố N, phường T, tỉnh Đồng Nai.

- Ông Nguyễn Thái L, sinh năm 1976

Địa chỉ: A, khu phố N, phường T, tỉnh Đồng Nai.

(Bị cáo H có mặt; bà M, bà D có mặt; riêng ông L vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do có nhu cầu mua thuốc lá điếu nhập lậu về bán kiếm lời, ngày 07/8/2025, Huỳnh Văn H sử dụng điện thoại di động (không nhớ hiệu) liên hệ với T3 và C (không rõ họ, địa chỉ) mua tổng số 2750 bao (257 cây) thuốc lá điếu nhập lậu gồm: 2250 bao (225 cây) thuốc lá hiệu Zet, 320 bao (32 cây) thuốc lá hiệu Hero. Cụ thể:

Khoảng 09 giờ ngày 07/8/2025 H hẹn gặp T3 tại đầu hẻm G, đường H, phường T, tỉnh Đồng Nai và mua của T3 1270 bao (127 cây) thuốc lá điếu nhập lậu, trong đó có 1250 bao (125 cây) thuốc lá hiệu Jet và 20 bao (02 cây) thuốc lá hiệu Hero, với giá 165.000 đồng/cây thuốc lá hiệu Zet và 185.000đ/cây thuốc lá Hero. H thanh toán cho T3 tổng số tiền 23.455.000đ (hai mươi ba triệu bốn trăm năm mươi lăm nghìn đồng), bằng tiền mặt. Sau đó, H đem 1200 bao thuốc lá Jet đóng vào 03 thùng giấy các tông dán kín và 01 túi màu đen, cất giấu tại nhà của anh Nguyễn Thái L (sinh năm 1976, cháu bên vợ của H), tại địa chỉ: A, khu phố N, phường T, tỉnh Đồng Nai, để chờ có khách mua thì đem bán. Còn 70 bao thuốc lá điếu nhập lậu (50 bao hiệu Jet và 20 bao hiệu Hero), H để lại trong cốp xe mô tô hiệu Honda Lead, biển số 60F3-21.334, và để xe mô tô trên tại nhà của H, ở địa chỉ: 7, khu phố Q, phường T, tỉnh Đồng Nai.

Khoảng 19 giờ 00 phút ngày 07/8/2025, H điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Vinfast Fadil, biển số 60K-031.97, đi đến khu vực bãi đất trống phía sau Bến xe A (xã B, TP .), gặp C để mua 300 bao (30 cây) thuốc lá lậu hiệu Hero với giá 155.000 đồng/cây và 1000 bao (100 cây), thuốc lá lậu hiệu Zet, với giá 185.000đ/cây. H thanh toán cho C tổng số tiền 23.150.000đ (hai mươi ba triệu một trăm năm mươi nghìn đồng), bằng tiền mặt. H đem số thuốc lá đã mua bỏ vào 07 túi nilong màu đen, để lên xe ô tô Vinfast Fadil, biển số 60K-031.97, rồi điều khiển xe đến cách nhà H khoảng 100m và đỗ tại đầu hẻm G, đường H, phường T, tỉnh Đồng Nai rồi rủ vợ là Văn Thị M (sinh năm 1963) cùng vận chuyển thuốc lá lậu đến nhà bà Văn Thị D (chị gái M, sinh năm 1959), địa chỉ: A, khu phố N, phường T, tỉnh Đồng Nai, để cất giấu thì M đồng ý đi cùng.

Khoảng 21 giờ cùng ngày, H điều khiển xe mô tô hiệu Honda Lead, biển số 60F3-21.334, lấy 04 túi thuốc lá trên xe Vinfast Fadil, biển số 60K-031.97, gồm: 01 túi đựng 200 bao (20 cây) thuốc lá Jet, 01 túi đựng 200 bao (20 cây) thuốc lá Hero và 01 túi đựng 100 bao (10 cây) thuốc lá H1, để ở chỗ để chân phía trước, chở M ngồi sau đem theo 01 túi đựng 200 bao (20 cây) cây thuốc lá Jet. Ngoài ra, trong cốp xe mô tô có sẵn 70 bao (07 cây) thuốc lá lậu (gồm 50 bao hiệu Jet và 20 bao hiệu Hero), H để trong cốp xe. Khoảng 21 giờ 15 phút cùng ngày khi H và M đang vận chuyển 770 bao (77 cây) thuốc lá điếu nhập lậu vào sân nhà của bà D để cất giấu thì bị lực lượng Công an phường T kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang H, M, thu giữ 770 bao thuốc lá điếu nhập lậu J và H1. Ngoài ra, H khai nhận đang cất giấu 1200 bao thuốc lá Jet tại nhà của anh Nguyễn Thái L và 600 bao thuốc lá Jet trên xe ô tô Vinfast Fadil, biển số 60K-031.97, nên Công an phường T đã thu giữ vật chứng và lập hồ sơ chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ xử lý theo quy định.

- Vật chứng vụ án gồm:

+ 01 (một) xe ô tô nhãn hiệu Vinfast Fadil, biển số 60K-031.97 là tài sản của chị Huỳnh Nguyễn Hòa N (sinh năm: 1986, con gái của H và vợ đã ly hôn là bà Nguyễn Thị Ngọc T2), cho H và M mượn để sử dụng. Chị N không biết việc H sử dụng chiếc xe trên để vận chuyển thuốc lá lậu. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ đã trả lại chiếc xe trên cho chị N.

+ 01 (một) xe mô tô hiệu Honda Lead, biển số 60F3-21.334, của chị Nguyễn Hải Y (sinh năm 1985, ĐKTT: 71/7, khu phố Q, phường T, tỉnh Đồng Nai, con riêng của Văn Thị M với chồng đã ly hôn là ông Nguyễn Duy T4). Chị Y không biết việc H và M sử dụng xe mô tô trên để vận chuyển thuốc lá lậu. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ đã trả lại chiếc xe trên cho chị Y.

+ 01 điện thoại di động (không rõ hiệu), của Huỳnh Văn H sử dụng liên lạc với C và T3 để mua thuốc lá điếu nhập lậu, quá trình vận chuyển thuốc lá tại bến xe A (TP. Hồ Chí M1), H đã làm rơi chiếc điện thoại trên (không xác định được vị trí rơi), nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ không thu giữ được.

+ Tổng số 2750 bao (257 cây) thuốc lá điều nhập lậu gồm: 2250 bao (225 cây) thuốc lá hiệu Zet, 320 bao (32 cây) thuốc lá hiệu Hero thu giữ của Huỳnh Văn H.

+ Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ thu giữ 02 (hai) điện thoại di động của Huỳnh Văn H gồm: 01 điện thoại di động hiệu Redmi 13 màu đen, số imei một: 861324077037960, số imei hai: 861324077037978, gắn sim số 0961628621, 0904189089; 01 điện thoại di động hiệu Redmi note 12 màu đen tím, số imei một: 865480065029587, số imei hai: 865480065029597, gắn sim số 0918403641, 0903872775. Quá trình điều tra xác định

Tại Cáo trạng số 215/CT-VKSKV1 ngày 29 tháng 01 năm 2026, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Đồng Nai truy tố bị cáo Huỳnh Văn H về “Tội buôn bán hàng cấm” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 190 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Đồng Nai giữ nguyên cáo trạng truy tố bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng như nội dung Cáo trạng số 215/CT-VKSKV1 ngày 29 tháng 01 năm 2026và đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 190, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo H từ 01 năm tù đến 01 năm 04 tháng tù.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử lý theo quy định của pháp luật.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của bị cáo, lời khai của những người tham gia tố tụng khác có trong hồ sơ vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu ở trên. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được trong quá trình điều tra. Đã có đủ cơ sở kết luận:

Do có nhu cầu mua thuốc lá điếu nhập lậu về bán kiếm lời, ngày 07/8/2025, Huỳnh Văn H đã liên hệ với T3 và C (không rõ họ, địa chỉ) mua tổng số 2750 bao (257 cây) thuốc lá điều nhập lậu gồm: 2250 bao (225 cây) thuốc lá hiệu Zet, 320 bao (32 cây) thuốc lá hiệu Hero. Cụ thể:

Khoảng 09 giờ ngày 07/8/2025, tại đầu hẻm G, đường H, phường T, tỉnh Đồng Nai, H mua của T3 1270 bao thuốc lá điếu nhập lậu hiệu Jet. Sau đó, H đem 1200 bao thuốc lá cất giấu tại nhà của Nguyễn Thái L (sinh năm 1976), tại địa chỉ: A, khu phố N, phường T, tỉnh Đồng Nai. Còn 70 bao thuốc lá điếu nhập lậu, H để lại trong cốp xe mô tô hiệu Honda Lead, biển số 60F3-21.334, và để xe mô tô trên tại địa chỉ: 7, khu phố Q, phường T, tỉnh Đồng Nai (nhà của H).

Khoảng 21 giờ ngày 07/8/2025, H liên hệ và mua của C tổng số 1300 bao (130 cây) thuốc lá điếu nhập lậu (hiệu Hero và Z), tại khu vực Bến xe A (xã B, TP .). Sau đó, H cùng Văn Thị M đem theo 770 bao (77 cây) thuốc lá điếu nhập lậu, đến nhà của bà Văn Thị D, tại địa chỉ A, khu phố N, phường T, tỉnh Đồng Nai để cất giấu. Tuy nhiên, H và M chưa kịp cất giấu thì bị lực lượng Công an phường T kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang cùng tang vật và lập hồ sơ chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ xử lý theo quy định.

Tổng số thuốc lá điếu nhập lậu thu giữ của Huỳnh Văn H gồm 2750 bao (257 cây), trong đó: 2250 bao thuốc lá hiệu Zet, 320 bao (32 cây) thuốc lá hiệu Hero. Như vậy, hành vi của các bị cáo Huỳnh Văn H đã cấu thành tội “Buôn bán hàng cấm” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 190 Bộ luật hình sự.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm các quy định của Nhà nước trong quản lý thị trường, ảnh hưởng đến uy tín và hoạt động kinh doanh hợp pháp của các tổ chức kinh tế, xâm phạm trực tiếp đến trật tự quản lý kinh tế, mà cụ thể là trật tự quản lý việc sản xuất buôn bán hàng hóa, chống hàng giả của các cơ quan quản lý nhà nước.

Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Xét về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì thấy: Bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án tiền sự; thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, có thái độ ăn năn hối cải; Căn cứ tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo nên cần phải có mức hình phạt tương xứng với bị cáo. Tiếp tục cách ly bị cáo H ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo.

Về vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy 2750 bao (257 cây) thuốc lá điếu nhập lậu gồm: 2250 bao (225 cây) thuốc lá hiệu Zet, 320 bao (32 cây) thuốc lá hiệu Hero.

Trả lại cho bị cáo Huỳnh Văn H 02 điện thoại di động, gồm: 01 điện thoại di động hiệu Redmi 13 màu đen, số imei một 861324077037960, số imei hai 861324077037978, gắn sim số 0961628621, 0904189089; 01 điện thoại di động hiệu Redmi note 12 màu đen tím, số imei một: 865480065029587, số imei hai: 865480065029595, gắn sim số 0918403641, 0903872775, do không liên quan đến vụ án.

Về án phí HSST: Buộc bị cáo phải nộp 200.000đ án phí Hình sự sơ thẩm.

Đối với T3 và C là các đối tượng đã bán thuốc lá điếu nhập lậu cho Huỳnh Văn H, hiện chưa xác định được nhân thân, lai lịch, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ tách ra để tiếp tục xác minh, xử lý theo quy định.

Đối với Văn Thị M, đã cùng Huỳnh Văn H vận chuyển 770 bao thuốc lá điếu nhập lậu đến nhà của Văn Thị D để cất giấu. Quá trình điều tra xác định: Văn Thị M không đồng phạm với Huỳnh Văn H trong việc buôn bán thuốc lá điếu nhập lậu. M không có tiền án, tiền sự về các tội liên quan đến hành vi tàng trữ, vận chuyển, sản xuất, buôn bán hàng cấm và hàng giả. Vì vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ không xem xét xử lý hình sự đối với Văn Thị M và chuyển hồ sơ tài liệu cho Phòng Cảnh sát kinh tế Công an tỉnh Đ xử phạt vi phạm hành chính đối với M là có căn cứ theo quy định tại khoản 5 Điều 8 Nghị định 98/2020/NĐ-CP ngày 26/8/2020 của Chính phủ.

Đối với Nguyễn Thái L (cháu họ của M) đã cho H gửi 1200 bao thuốc lá điếu nhập lậu tại phòng trọ của anh L. Quá trình điều tra xác định: Số thuốc lá điếu nhập lậu trên H đựng vào các thùng các tông dán kín, anh L không mở ra xem bên trong có gì. Khi gửi H không cho L biết đây là thuốc lá điếu nhập lậu H mua về cất giấu để đem bán. Vì vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ không xem xét xử lý hình sự đối với anh L là có căn cứ.

Đối với Văn Thị D không biết việc H và M đem 770 bao thuốc lá điếu nhập lậu đến gửi tại nhà chị D. Khi chưa đưa thuốc lá vào nhà chị D thì H và M bị bắt quả tang. Vì vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ không xem xét xử lý hình sự đối với chị D là có căn cứ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Huỳnh Văn H phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.

1/ Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1 Điều 51của Bộ luật hình sự năm 2015.

2/ Xử phạt: Bị cáo Huỳnh Văn H 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính ngày 07 tháng 8 năm 2025.

3/ Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy 257 cây (2750 bao) thuốc lá điếu nhập lậu gồm: 225 cây thuốc lá nhãn hiệu Zet, 32 cây thuốc lá nhãn hiệu Hero.

Trả lại cho bị cáo Huỳnh Văn H 02 điện thoại di động, gồm: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi 13 màu đen, số imei 1 là 861324077037960, số imei 2 861324077037978, gắn sim số 0961.628.621 và sim số 0904.189.089; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi note 12 màu đen tím, số imei 1: 865480065029587, số imei 2: 8654800065029595, gắn sim số 0918.403.641, 0903.872.775.

(Theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 30/01/2026 của Phòng Thi hành án dân sự khu vực 1 - Đồng Nai).

4/ Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án; Buộc bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5/ Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ