- Tranh chấp gì? án hình sự — "Y T Êban phạm tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ" - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 L…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Y T Êban phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TP BUÔN MA THUỘT TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 230/2020/HSST Ngày 20-8-2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Dư
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Hoàng Viết Oanh
2. Ông Hồ Tùng Mận
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Nguyệt Ánh – Là thư ký Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Ông Lê Viết Bình - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 8 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 220/2020/TLST-HS ngày 20 tháng 7 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 230/2020/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 7 năm 2020 đối với bị cáo:
Họ và tên: Họ và tên: Y T Êban; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 02 tháng 8 năm 1997; Tại: tỉnh Đắk Lắk;
Nơi cư trú: Buôn K, xã E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Ê Đê; Tôn giáo: Thiên chúa giáo; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: 8/12; Con ông: Y S1 Niê và bà: H’ Y Êban; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án: Không; Tiền sự: Không;
Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú - Có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Cháu Y Tăng M Kbuôr, sinh năm: 2004 (đã chết)
Địa chỉ: Buôn E, xã H, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.
Người đại diện hợp pháp của người bị hại đồng thời là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Y L Êban, sinh năm 1978 và bà H’ T1 Kbuôr, sinh năm 1980 (là cha và mẹ của cháu Y Tăng M Kbuôr) - có mặt.
Cùng địa chỉ: Buôn E, xã H, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.
Người đại diện theo ủy quyền của ông Y Loa Êban và bà H’ Trang Kbuôr: Ông Y S2 Kbuôr, sinh năm 1956 - có mặt.
Địa chỉ: Buôn A xã C, huyện C, tỉnh Đắk Lắk.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Y B1 Byă, sinh 1979 - có mặt
Địa chỉ: Buôn K, xã E, Thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
Người làm chứng:
1. Anh Y B2 Êban, sinh năm 1995 - Có mặt
2. Anh Y N Êban, sinh năm 2004 - Có mặt
3. Anh Y T2 AĐRơng, sinh năm 1999 - Có mặt
4. Anh Y T3 Êban, sinh năm 1999 - Có mặt
Cùng địa chỉ: Buôn K, xã E,Thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ 15 phút ngày 12/10/2019, Y T Êban (chưa có giấy phép lái xe máy kéo hạng A4) điều khiển xe máy kéo không có biển số xe, nhãn hiệu đầu máy JIANGDONG, đầu máy sơn màu đỏ, thùng sau sơn màu xanh, số máy: VN11708070646, không có số khung, lưu thông trên đường Quốc lộ 26, thành phố B, theo hướng từ vòng xuyến Km5, thành phố B đến huyện K, tỉnh Đắk Lắk. Y T Êban điều khiển xe máy kéo, đi tại làn đường phía ngoài, phần đường bên phải theo hướng đi của xe máy kéo, với tốc độ khoảng 35km/h- 40km/h. Phía sau thùng xe chở các anh Y T2 Êban, Y B2 Êban, Y T3 Adrơng và cháu Y N Êban. Đến khoảng 21 giờ 10 phút cùng ngày, khi Y T Êban điều khiển xe máy kéo đi đến trước trụ điện số 161, km 143 + 400m, Quốc lộ 26, thuộc địa bàn xã E, thành phố B. Đây là khu vực ngã ba giao nhau giữa đường Quốc lộ 26, thành phố B với đường vào buôn K, xã E, thành phố B. Y T điều khiển xe máy kéo chuyển hướng sang trái để đi vào buôn K, xã E, thành phố B, do chủ quan thiếu chú ý quan sát, chuyển hướng qua đường không đảm bảo an toàn cho người tham gia giao thông đi phía trước ngược chiều, nên Y T đã để phía sau, bên phải thùng xe máy kéo tông vào phía trước xe Mô tô biển số 47H9-1004, nhãn hiệu HONGDA, số khung: PA110Y0030035, số máy: HD1P53FMHY0029307 do cháu Y Tăng M Kbuôr điều khiển, lưu thông trên đường Quốc lộ 26 theo hướng từ huyện K, tỉnh Đắk Lắk, đến vòng xuyến Km5, thành phố B, gây ra vụ tai nạn giao thông. Hậu quả: Cháu Y Tăng M Kbuôr tử vong tại chỗ, xe Mô tô biển số 47H9-1004 và xe máy kéo hiệu JIANGDONG bị hư hỏng. Sau khi sự việc xảy ra, Y T Êban điều khiển xe máy kéo đi đến Công an xã E, thành phố B, trình báo sự việc, đồng thời tự nguyện giao nộp xe máy kéo là phương tiện liên quan đến vụ tai nạn giao thông.
* Hiện trường nơi xảy ra vụ tai nạn:
Đoạn đường nơi xảy ra vụ tai nạn giao thông là đường Quốc lộ 26, thành phố B, đây là đường hai chiều, thẳng, mặt đường được trải nhựa bằng phẳng, rộng 13,80m, có vạch sơn đơn, nét đứt quãng, màu vàng phân chia phần đường xe chạy. Hai bên ngoài mặt đường là đường đất có độ rộng không cố định, phân cách với mặt đường bằng ta luy, cao hơn so với mặt đường 0,20m, thưa thớt nhà dân sinh sống. Ngoài mặt đường bên phải tính theo hướng từ huyện K, tỉnh Đắk Lắk, đến đường P, thành phố B, có các trụ đèn đường, ngoài mặt đường bên trái (hướng đối diện) không có đèn đường.
Hiện trường nơi xảy ra vụ tai nạn giao thông tại phần đường bên phải đường Quốc lộ 26, km 143 + 400m, thuộc địa bàn buôn K, xã E, thành phố B. Phần đường được trải nhựa bằng phẳng, rộng 6,90m, có vạch sơn đơn, nét đứt quãng, màu trắng phân chia thành hai làn đường xe chạy. Làn đường trong rộng 3,20m, làn đường ngoài rộng 3,70m. Đoạn đường giao nhau với đường ngang đi vào xã E, thành phố B, có cổng chào “buôn Kô Tam”. Đường ngang là đường hai chiều, thẳng, mặt đường được trải nhựa bằng phẳng, rộng 5,00m, các mép tại nơi giao nhau có hình vòng cung rộng. Khu vực xung quanh nơi giao nhau không có đèn đường, có biển báo hiệu giao thông đường bộ “người đi bộ cắt ngang”, không có chướng ngại vật che khuất tầm nhìn người tham gia giao thông.
Quá trình khám nghiệm hiện trường, lấy hướng từ huyện K đến vòng xuyến Km5, thành phố B, làm hướng chuẩn. Lấy mép đường bên phải đường Quốc lộ 26 theo hướng chuẩn làm mép đường chuẩn (1), ký hiệu MĐC (1). Lấy mép đường bên phải đường ngang đi vào xã E, tính theo hướng từ UBND xã E ra đường Quốc lộ 26 làm mép đường chuẩn (2), ký hiệu MĐC (2). Chọn phía dưới trụ điện số 161 làm mốc cố định. Chọn hướng Bắc làm hướng chính thể hiện trên sơ đồ hiện trường. Lấy đơn vị đo là mét (m).
(1) Xe Mô tô biển số 47H9-1004, do cháu Y Tăng M Kbuôr điều khiển xác định lưu thông trên đường Quốc lộ 26, thành phố B, theo hướng từ huyện K đến vòng xuyến Km5, thành phố B. Sau vụ tai nạn, xe ngã nghiêng sang trái, tại làn đường ngoài của phần đường bên phải, tính theo hướng đi của xe. Đầu xe quay vào lề đường bên phải (tính theo hướng chuẩn) và quay hơi chếch về hướng vòng xuyến Km5, thành phố B (hướng Tây Bắc). Đuôi xe quay ra mặt đường và hơi chếch về hướng huyện K (hướng Đông Nam). Tâm bánh trước xe cách mép đường chuẩn (1) là 4,70m. Tâm bánh sau xe cách mép đường chuẩn (1) là 5,30m, cách mép đường chuẩn (2) là 8,85m và cách mốc cố định là 12,3m.
(2) Xe máy kéo (không có biển số), do Y T Êban điều khiển xác định lưu thông trên đường Quốc lộ 26 theo hướng ngược chiều với hướng đi của xe (1). Khi xảy ra vụ tai nạn, xe đỗ tại hiện trường, tại phần đường bên phải đường ngang đi vào xã E. Đầu xe quay về hướng UBND xã E (hướng Đông Bắc). Đuôi xe quay về hướng đường Quốc lộ 26 (hướng Tây Nam). Tâm mép ngoài lốp xe trước, bên trái (phần đầu kéo) cách mép đường chuẩn (1) là 22,55m và cách mép đường chuẩn (2) là 3,80m. Tâm mép ngoài lốp sau, bên trái (phần thùng sau) cách mép đường chuẩn (1) là 19,30m, cách mép đường chuẩn (2) là 3,50m và cách tâm bánh sau xe (1) là 27,20m.
(3) Nạn nhân tử vong tại hiện trường, xác định là cháu Y Tăng M Kbuôr tử vong trong tư thế nằm ngửa trên mặt đường, tại làn đường trong phần đường bên phải theo hướng đi của xe (1). Phần đầu quay vào lề đường bên phải, tính theo hướng chuẩn (hướng Đông Bắc), chân quay ra mặt đường (hướng Tây Nam). Đỉnh đầu cách mép đường chuẩn (1) là 1,70m và cách mốc cố định là 8,60m. Gót chân phải cách mép đường chuẩn (1) là 2,70m và cách tâm bánh trước xe (1) là 1,80m.
Vị trí va chạm đầu tiên giữa xe Mô tô biển số 47H9-1004 với xe máy kéo (không có biển số), được xác định tương ứng với mặt đường Quốc lộ 26, thành phố B, cách mép đường chuẩn (1) là 4,20m, cách tâm bánh sau xe (1) là 1,50m và cách mốc cố định là 11,50m.
Tại bản Kết luận giám định pháp y tử thi số 3751/PY-T.Th, ngày 18/11/2019, của Trung tâm Pháp y tỉnh Đắk Lắk, kết luận: Nguyên nhân tử vong của cháu Y Tăng M Kbuôr là ngưng hô hấp, tuần hoàn do chấn thương ngực nặng- dập phổi/ Nhiều chấn thương nặng do tai nạn giao thông.
Tại bản cáo trạng số: 230/CT-VKS ngày 20/7/2020, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Buôn Ma Thuột đã truy tố Y T ÊBan về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Buôn Ma Thuột đã phân tích, chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Y T ÊBan phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo Y T Êban mức án từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 (năm) năm.
Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 của Bộ luật hình sự, Điều 584, Điều 591 của Bộ luật dân sự; Chấp nhận việc bị cáo đã tự nguyện thỏa thuận bồi thường tiền chi phí mai táng cho bị hại Y Tăng M Kbuôr và bồi thường tiền tổn thất về tinh thần cho cha, mẹ cháu Y Tăng M Kbuôr, tổng số tiền 80.000.000 đồng.
Về xử lý vật chứng: Chấp nhận việc cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột trả chiếc xe máy kéo (không có biển số), nhãn hiệu đầu máy JIANGDONG, đầu máy sơn màu đỏ, thùng sau sơn màu xanh, số máy: VN11708070646, không có số khung cho anh Y B1 Byă, nhận quản lý sử dụng.
Bị cáo không tranh luận, bào chữa gì, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Tại phiên tòa, đại diện hợp pháp cho người bị hại ông Ông Y Siăl Kbuôr xác định đã nhận đủ số tiền bồi thường chi phí mai táng cho cháu Y Tăng M Kbuôr và tiền bù đắp tổn thất về tinh thần cho ông Y L Êban và bà H’ T1 Kbuôr; tổng số tiền 80.000.000 đồng, xin bãi nại, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và không có yêu cầu gì khác. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Y B1 Byă xác định đã nhận chiếc xe máy kéo và không có yêu cầu gì khác, ông Y L Êban và bà H’ T1 Kbuôr xác định không nhận lại chiếc mô tô biển số: 47H9-1004.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, biên bản hiện trường và các tài liệu chứng cứ khác thu thập được có trong hồ sơ vụ án.
Xét quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Buôn Ma Thuột truy tố đối với bị cáo Y T Êban là có cơ sở, đúng pháp luật.
Như vậy đã có đủ căn cứ pháp lý kết luận bị cáo Y T Êban đã vi phạm vào khoản 2 Điều 15, khoản 1 Điều 58 của Luật giao thông đường bộ và phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”; Tội phạm và hình phạt được quy định tại đểm a khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ Luật hình sự.
Điều 260 Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a) Làm chết người”
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:
a) Không có giấy phép lái xe theo quy định”.
Y T Êban là công dân có đủ khả năng nhận thức và điều khiển được hành vi của bản thân trong cuộc sống, buộc bị cáo phải biết được, khi điều khiển xe máy kéo thì phải có giấy phép lái xe máy kéo hạng A4 theo quy định và khi tham gia giao thông phải tuyệt đối tuân thủ các quy định về an toàn giao thông đường bộ, nếu vi phạm thì sẽ gây ra thiệt hại nghiêm trọng về người và tài sản, nhưng do không tuân thủ các quy định về an toàn giao thông đường bộ, nên vào khoảng 21 giờ 10 phút ngày 12/10/2019, mặc dù chưa có giấy phép lái xe hạng A4, nhưng Y T Êban vẫn điều khiển xe máy kéo (không có biển số), nhãn hiệu đầu máy JIANGDONG, đầu máy sơn màu đỏ, thùng sau sơn màu xanh, số máy: VN11708070646, không có số khung, lưu thông trên Quốc lộ 26, thành phố B, khi đi đến trước trụ điện số 161, km 143 + 400m, Quốc lộ 26, thuộc địa bàn xã E, thành phố B, do chủ quan thiếu chú ý quan sát, chuyển hướng qua đường không đảm bảo an toàn cho người tham gia giao thông, không nhường đường cho xe đi ngược chiều, nên đã để phía sau bên phải thùng xe máy kéo tông vào phía trước xe Mô tô biển số: 47H9-1004, do cháu Y Tăng M Kbuôr, điều khiển, gây ra vụ tai nạn giao thông; Hậu quả: Cháu Y Tăng M Kbuôr tử vong tại chỗ. Hội đồng xét xử xét thấy phải có một mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra để giáo dục bị cáo trở thành công dân sống biết tôn trọng pháp luật mới phát huy được tác dụng trong đấu tranh phòng chống tội phạm.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả cho người bị hại; Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo tỏ rõ sự ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đại diện hợp pháp của người bị hại đã làm đơn bãi nại và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; mặt khác Bị cáo là người dân tộc thiểu số mới học đến lớp 8/12 nên khả năng nhận thức về pháp luật có phần hạn chế; Sau khi gây tai nạn đã tự nguyên đến cơ quan chức năng trình báo; Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự được áp dụng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
Bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng; tai nạn giao thông xảy ra cũng một phần do lỗi của người bị hại là điều khiển xe mô tô lưu thông ban đêm không có đèn, không làm chủ được tốc độ nên đã để phía trước xe mô tô tông vào phía sau bên phải xe máy kéo do bị cáo điều khiển; Do vậy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà chỉ cần áp dụng biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện dưới sự giám sát của gia đình và chính quyền địa phương cũng đủ tác dụng cải tạo, giáo dục đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã tự nguyện thoả thuận bồi thường tiền chi phí mai táng cho cháu Y Tăng M và tiền bù đắp tổn thất về tinh thần cho cha, mẹ của cháu Y Tăng M, tổng số 80.000.000 đồng, gia đình người bị hại đã nhận đủ tiền và không có yêu cầu gì khác; Đây là sự tự nguyện giữa bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại, nên cần ghi nhận là phù hợp theo quy định của pháp luật.
Về xử lý vật chứng: Đối với xe máy kéo (không có biển số), nhãn hiệu đầu máy JIANGDONG, đầu máy sơn màu đỏ, thùng sau sơn màu xanh, số máy: VN11708070646, không có số khung. Quá trình điều tra xác định là tài sản chung của Y T Êban và anh Y B1 Byă. Tháng 4/2018, Y T Êban và anh Y B1 Byă cùng nhau góp tiền mua chiếc xe máy kéo trên, nhưng chưa đăng ký phương tiện theo quy định của pháp luật. Ngày 22/6/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk ra Quyết định xử lý vật chứng trả xe máy kéo cho anh Y B1 Byă là phù hợp.
Đối với chiếc xe Mô tô biển số: 47H9-1004, nhãn hiệu HONGDA, số khung: PA110Y0030035, số máy: HD1P53FMHY0029307. Quá trình điều tra xác định: Xe mô tô trên là tài sản của ông Y L Êban, khoảng tháng 6/2019, ông Y L Êban mua tại huyện Đ, tỉnh Đắk Nông (không nhớ rõ địa chỉ), không có giấy chứng nhận đăng ký xe, sử dụng làm phương tiện đi lại. Sau vụ tai nạn, ông Y L Êban và gia đình không có nguyện vọng nhận lại xe Mô tô biển số: 47H9-1004. Hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột chưa xác định được chủ sở hữu hợp pháp xe mô tô trên, nên Quyết định tách ra khỏi vụ án, tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý sau, là phù hợp.
Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật hình sự.
Tuyên bố bị cáo Y T Êban phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Xử phạt bị cáo Y T Êban 03 (ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 (năm) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Y T Êban cho Ủy ban nhân dân xã E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Bị cáo Y T Êban thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hinh phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
* Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ khoản 1 Điều 46, Điều 48 của Bộ luật hình sự, Điều 584, Điều 589, Điều 590, Điều 591, Điều 601 của Bộ luật dân sự.
Chấp nhận việc bị cáo và đại diện gia đình bị hại Y Tăng M KBuôr đã tự nguyện thoả thuận bồi thường chi phí điều trị thương tích, mai táng cho cháu Y Tăng M KBuôr và tiền bù đắp tổn thất về tinh thần cho cha, mẹ cháu Y Tăng M KBuôr; tổng số tiền: 80.000.000đ (tám mươi triệu đồng) (đã bồi thường xong).
* Về xử lý vật chứng:
Chấp nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột trả chiếc xe máy kéo (không có biển số), nhãn hiệu đầu máy JIANGDONG, đầu máy sơn màu đỏ, thùng sau sơn màu xanh, số máy: VN11708070646, không có số khung cho anh Y B1 Byă là đồng chủ sở hữu.
Chấp nhận việc Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Thành phố Buôn Ma Thuột đã tách chiếc xe Mô tô biển số: 47H9-1004, nhãn hiệu HONGDA, số khung: PA110Y0030035, số máy: HD1P53FMHY0029307 ra khỏi vụ án tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau.
* Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo Y T Êban phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, người đại diện hợp pháp của người bị hại, được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm ngày) ngày kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản án hoặc quyết định có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Vụ GĐKT 1 – TAND TC; - TAND tỉnh Đắk Lắk; - VKSND tỉnh Đắk Lắk; - VKSND Tp. Buôn Ma Thuột; - Công an Tp. Buôn Ma Thuột; - Thi hành án phạt tù (để thi hành); - Chi cục THADS Tp. Buôn Ma Thuột; - Sở Tư pháp tỉnh Đắk Lắk; - Bị cáo, các đương sự; - Lưu hồ sơ, văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Vũ Thị Dư |