- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Sỹ T tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS nă…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Sỹ T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HAI BÀ TRƯNG - TP. HÀ NỘI ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 230/2020/HS-ST Ngày 20-8-2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HAI BÀ TRƯNG -THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Thủy
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Cúc
Bà Vương Thúy Thìn
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lài - Thư ký Toà án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Hải - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 8 năm 2020, tại Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 256/2020/TLST-HS ngày 05 tháng 8 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 264/2020/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 8 năm 2020 đối với:
Bị cáo Nguyễn Sỹ T; Sinh năm 1972; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: tổ X, phường Y, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội; Nơi ở: số M phố N, phường Giảng Võ, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 10/10; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Sỹ C và con bà Lê Thị N; Gia đình có ba anh em, bị cáo là con thứ hai; Tiền án: Không; Tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt quả tang ngày 20/5/2020; tạm giam ngày 27/5/2020. Danh chỉ bản số 280 lập ngày 21/5/2020 tại Công an quận Hai Bà Trưng. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 - Công an thành phố Hà Nội; có mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do bản thân nghiện ma túy nên khoảng 08 giờ 50 phút, ngày 20/5/2020, Nguyễn Sỹ T đi bộ đến khu vực ngã tư ngõ 220 Bạch Mai, cắt ngách 27 ngõ Chùa Liên Phái, phường Cầu Dền, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội để tìm mua ma túy về sử dụng. Tại đây, T có gặp một người đàn ông không quen biết khoảng hơn 30 tuổi và hỏi mua 400.000 đồng (bốn trăm nghìn đồng) hêrôin. Người đàn ông đồng ý và cầm tiền của T rồi đi vào trong ngõ khoảng 5 phút thì quay ra và đưa cho T 04 (bốn) gói hêrôin. T cất 04 (bốn) gói hêrôin này vào trong ngăn ngoài ví da và để ở túi quần phía sau bên phải đi tìm nơi sử dụng. Khoảng 09 giờ 05 phút, khi đi đến khu vực vỉa hè trước số nhà 225 phố Bạch Mai, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội thì bị Tổ công tác công an phường Cầu Dền kiểm tra. Tại chỗ, T tự giác giao nộp cho cơ quan công an 04 (bốn) gói giấy màu xanh, kích thước mỗi gói khoảng 0,5x1cm, bên trong có chứa chất bột màu trắng và khai nhận đó là hêrôin vừa mua về với mục đích để sử dụng. Cơ quan công an đã lập biên bản tạm giữ, niêm phong tang vật và yêu cầu T về trụ sở để làm rõ. Ngoài ra, cơ quan công an còn thu giữ của T (01) một ví giả da màu đen đã qua sử dụng và số tiền 77.000 đồng (Bảy mươi bảy nghìn đồng).
Ngày 20/5/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận Hai Bà Trưng ra Quyết định trưng cầu giám định số ma túy đã thu giữ của Nguyễn Sỹ T. Tại bản Kết luận giám định số 4055/KLGĐ-PC09 ngày 28/5/2020, Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội kết luận: “Chất bột màu trắng bên trong 04 gói giấy đều là ma túy loại Hêrôin, khối lượng 0,241 gam”.
Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho T: T khai không quen biết nên ngày 20/5/2020, Cơ quan điều tra đã dẫn giải Nguyễn Sỹ T đi xác định địa điểm mua ma túy và người đã bán ma túy cho T. Kết quả dẫn giải thể hiện T xác định được địa điểm mua ma túy là tại khu vực ngã tư ngõ 220 Bạch Mai, cắt ngách 27 ngõ Chùa Liên Phái, phường Cầu Dền, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội, nhưng không xác định được người đàn ông đã bán ma túy cho T nên cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh, xử lý.
Đối với chiếc ví giả da màu đen đã qua sử dụng thu giữ của T: T khai là của T được dùng để đựng ma túy.
Về số tiền 77.000 đồng (Bảy mươi bảy nghìn đồng) thu giữ của T: T khai đây là tiền do T tiết kiệm mà có, không liên quan đến hành vi tàng trữ ma túy vào ngày 20/5/2020.
Tại bản Cáo trạng số 242/CT-VKSHBT ngày 30/7/2020, Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng truy tố Nguyễn Sỹ T về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Sỹ T giữ nguyên lời khai như tại cơ quan điều tra, thừa nhận nội dung, tội danh mà Viện kiểm sát truy tố bị cáo là đúng và xin giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng sau khi phân tích nội dung vụ án, đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố Nguyễn Sỹ T và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Sỹ T với mức án từ 18 tháng đến 24 tháng tù; Hình phạt bổ sung: không áp dụng; Về xử lý vật chứng: tịch thu tiêu huỷ toàn bộ số ma tuý, tịch thu tiêu hủy chiếc ví giả da màu đen, trả lại bị cáo số tiền 77.000đ (bảy mươi bảy nghìn đồng).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra, Công an quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Sỹ T không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Xét lời khai của bị cáo Nguyễn Sỹ T tại phiên tòa thống nhất với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án; căn cứ Kết luận giám định của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội, Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 09 giờ 05 phút ngày 20/5/2020, tại khu vực vỉa hè trước số nhà 225 phố Bạch Mai, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội, bị cáo Nguyễn Sỹ T có hành vi tàng trữ trái phép 0,241 gam ma túy loại hêrôine để sử dụng.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm quyền kiểm soát và quản lý các chất ma tuý của nhà nước, gây mất trật tự trị an, gây bất bình và tâm lý lo lắng trong nhân dân. Ma túy đang là mối hiểm họa cho mỗi gia đình và toàn bộ xã hội, Nhà nước đã có nhiều chính sách cương quyết tuyên truyền vận động đến chế tài xử lý nghiêm khắc mọi hành vi liên quan đến ma tuý. Bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình bị pháp luật cấm, thấy trước được tác hại của hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý nhưng vẫn cố ý thực hiện. Tại phiên toà bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình theo bản Cáo trạng và lời luận tội của Viện kiểm sát, do đó Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận Nguyễn Sỹ T phạm tội tàng trữ trái phép chất ma tuý được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng truy tố và kết luận về hành vi phạm tội của bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Về nhân thân: Bị cáo Nguyễn Sỹ T không có tiền án, tiền sự, đây là lần đầu bị truy tố xét xử nhưng xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội đối với hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để đảm bảo việc cải tạo, giáo dục riêng đối với bị cáo và đảm bảo công tác đấu tranh, phòng ngừa chung đối với xã hội. Tuy nhiên khi lượng hình Hội đồng xét xử có xem xét bị cáo T tại cơ quan điều tra và tại phiên toà đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên quyết định áp dụng cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Theo khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên toà thấy bị cáo không có nghề nghiệp, hoàn cảnh khó khăn nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho bị cáo: do bị cáo không biết rõ nhân thân, địa chỉ cụ thể. Cơ quan điều tra đã truy tìm nhưng không xác định được nên không có căn cứ xác minh, xử lý là có cơ sở.
Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra đã thu giữ 0,241 gam ma túy loại hêrôin - đây là chất độc hại, Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu tiêu huỷ.
Đối với chiếc ví giả da màu đen đã qua sử dụng thu giữ của bị cáo: quá trình điều tra xác định là của bị cáo, dùng để đựng ma túy, tại phiên tòa bị cáo khai chiếc ví này đã cũ, không còn giá trị sử dụng, nên thấy cần tịch thu tiêu hủy.
Về số tiền 77.000 đồng (bảy mươi bảy nghìn đồng) thu giữ của bị cáo: quá trình điều tra xác định là do bị cáo tiết kiệm mà có, không liên quan đến hành vi phạm tội, nên trả lại cho bị cáo.
Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Sỹ T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý.
2. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017,
Xử phạt: Nguyễn Sỹ T 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 20/5/2020.
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu, tiêu huỷ 01 (một) bì niêm phong bên ngoài có chữ ký của Giám định viên và bị cáo Nguyễn Sỹ T.
- Tịch thu, tiêu hủy 01 (một) chiếc ví giả da màu đen đã qua sử dụng.
Vật chứng trên hiện đang bảo quản tại Chi cục thi hành án dân sự quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội theo Biên bản giao nhận tang vật, vật chứng ngày 31/7/2020 (số tang vật 310/20) giữa Công an quận Hai Bà Trưng với Chi cục thi hành án dân sự quận Hai Bà Trưng.
- Trả lại bị cáo số tiền 77.000 đồng (bảy mươi bảy nghìn đồng) theo Giấy nộp tiền vào tài khoản lập ngày 31/7/2020 do Công an quận Hai Bà Trưng nộp vào tài khoản số 3949 0 1049415 của Chi cục thi hành án dân sự quận Hai Bà Trưng tại Kho bạc Nhà nước quận Hai Bà Trưng.
4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Bị cáo Nguyễn Sỹ T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, bị cáo Nguyễn Sỹ T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Bị cáo; -VKSND quận Hai Bà Trưng; -VKSND TP Hà Nội; - Toà án NDTP Hà Nội; - Công an quận Hai Bà Trưng; - Trại tạm giam số 1 - Công an TP Hà Nội; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Phương Thủy |