- Tranh chấp gì? "hinh sụ sơ thẩm - phạm tội che giấu tội phạm (điều 389 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn Huy 45 (Bốn mươi lăm) tháng tï về tội “Cưỡng đoạt tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày b¾t t¹m giam (19/9/2017).
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 107 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KON TUM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| B¶n ¸n sè: 23/2018/HS-ST Ngµy 15 - 08 - 2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG Hßa XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Tßa ÁN NHÂN DÂN TỈNH KON TUM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
ThÈm ph¸n - Chñ täa phiªn tßa: ¤ng Nguyễn Tiến Tăng
C¸c Héi thÈm nh©n d©n:
1. Ông Lâm Duy Nhẫn
2. Bà Nguyễn Thị Ven.
- Th
ký phiªn tßa:
¤ng T« Quang §« - Thư ký Tßa ¸n nh©n d©n tØnh Kon Tum.
- §¹i diÖn ViÖn kiÓm s¸t nh©n d©n tØnh Kon Tum tham gia phiªn tßa:
Bà Trư ng Thị Thanh Thủy - KiÓm s¸t viªn.
Ngày 15 tháng 8 năm 2018 t¹i trô së Tßa ¸n nh©n d©n tØnh Kon Tum xÐt xö s¬ thÈm công khai vô ¸n h×nh sù s thẩm thô lý sè: 20/2018/TLST-HS ngày 02 tháng 4 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 699/2018/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 5 năm 2018 ®èi víi các bÞ c¸o:
1. Nguyễn Văn H (Tên gọi khác: Huy C sinh ngày 10 tháng 3 năm 1988 tại tỉnh Kon Tum. N i cư trú: 04 Nguyễn Bỉnh Khiêm, phường X, huyện Y, tỉnh K; nghÒ nghiÖp: Thợ điện ô tô; tr×nh ®é v¨n hãa (học vấn : 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con «ng (không rõ tên tuổi vµ bµ Nguyễn Thị Xuân Thanh; cã vợ lµ Nguyễn Thị Ngọc Thịnh vµ 02 con; tiÒn ¸n: Không, tiÒn sù: Kh«ng.
Nhân thân:
Ngày 06 tháng 3 năm 2006, bị Tòa án nhân dân thành phố Kon Tum xử phạt 03 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, đã chấp hành xong hình phạt và được xóa án tích.
Ngày 08 tháng 11 năm 2010, bị Tòa án nhân dân tỉnh Kon Tum xử phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, đã chấp hành xong hình phạt và được xóa án tích.
BÞ b¾t, t¹m giam tõ ngµy 19 tháng 09 năm 2017 cho ®Õn nay (Cã mÆt).
- 1 -
2. Nguyễn Ngọc H(Tên gọi khác: I) sinh ngày 25 tháng 10 năm 1986 tại tỉnh Kon Tum. N i ĐKHKTT: 19 Đoàn Thị Điểm, phường A, thành phố Y, tỉnh K; Chỗ ở hiện nay: 231 Phan Chu Trinh, phường Quyết Thắng, thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum; nghÒ nghiÖp: Lái xe; tr×nh ®é v¨n hãa (học vấn): 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con «ng Nguyễn Ngọc Anh vµ bµ Hồ Thị Thu Hư ng; cã vợ là Trư ng Thị Thanh Thủy vµ 01 con sinh năm 2015 (Vợ Lê Thị Hằng đã ly hôn, có 02 con chung); tiÒn ¸n: Không, tiÒn sù: Kh«ng.
BÞ b¾t, t¹m giam tõ ngµy 27 tháng 12 năm 2017 cho ®Õn nay (Cã mÆt).
3. Nguyễn Hữu Đ (Tên gọi khác: Cu Đ) sinh ngày 16 tháng 8 năm 1996 tại Bình Định. N i cư trú: 381 Đào Duy Từ, phường A, thành phố Y, tỉnh K; nghÒ nghiÖp: Không; tr×nh ®é v¨n hãa (học vấn): 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con «ng Nguyễn Hữu Đắc vµ bµ Nguyễn Thị Đăng.
TiÒn ¸n: 02 tiền án
Ngày 19 tháng 3 năm 2014, bị Tòa án nhân dân thành phố Kon Tum xử phạt 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 30 tháng về tội “Cố ý gây thương tích”.
Ngày 30 tháng 12 năm 2014, bị Tòa án nhân dân thành phố Kon Tum xử phạt 06 tháng tù về tội “Chống người thi hành công vụ” và tổng hợp hình phạt với bản án về tội “Cố ý gây thương tích”, bÞ c¸o ph¶i chÊp hµnh h×nh ph¹t chung cña hai b¶n ¸n lµ 21 tháng tù.
TiÒn sù: Kh«ng
BÞ b¾t, t¹m giam tõ ngµy 04 tháng 01 năm 2018 cho ®Õn nay (Cã mÆt).
4. Nguyễn Nhật T sinh ngày 17 tháng 9 năm 1995 tại Kon Tum. N i cư trú: Tổ 01, phường A, thành phố Y, tỉnh K; nghÒ nghiÖp: Lao động tự do; tr×nh ®é v¨n hãa (học vấn : 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Kim Ngân và bà Đặng Thị Quốc; tiÒn ¸n: Không, tiÒn sù: Kh«ng.
Nhân thân:
Tháng 3 năm 2015, bị Công an thành phố Kon Tum xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”, đã nộp phạt xong và được xóa tiền sự.
Ngày 28 tháng 12 năm 2016, bị Tòa án nhân dân thành phố Kon Tum xử phạt 24 tháng tù về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” (tội này được thực hiện sau thời gian thực hiện hành vi phạm tội “Không tố giác tội phạm” .
Bị cáo tại ngoại (Cã mÆt).
- Ng êi bµo ch÷a cho bÞ c¸o Nguyễn Nhật Trường:
Ông Hoàng Minh Tân - Luật sư của Văn phòng luật sư Minh Tân thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Kon Tum (Có mặt).
- 2 -
- Bị hại trong vụ “Cưỡng đoạt tài sản”:
1. Ông Nguyễn Đức Du, sinh năm 1965; trú tại: 519 Phạm Văn Đồng, phường Trần Hưng Đạo, thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum (Vắng mÆt).
2. Ông Trịnh Văn Bình, sinh năm 1969; trú tại: 10 A Gió, phường Thắng Lợi, thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum (Vắng mÆt).
- Người có quy n l i, nghĩa vụ liên quan trong vụ “Cưỡng đoạt tài sản”:
1. Bà Nguyễn Thị Xuân Thanh, sinh năm 1934; trú tại: 17 Nguyễn Bỉnh Khiêm, phường Quyết Thắng, thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum (Cã mÆt).
2. Anh Trần Trung Hùng sinh năm 1987 (đồng thời là người làm chứng ; trú tại: 13 Trư ng Quang Trọng, thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum (Vắng mÆt).
3. Anh Đinh Khắc Trung, sinh năm 1984 (đồng thời là người làm chứng ; n i ĐKHKTT: 35 Trần Nhân Tông, phường Quang Trung, thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum; chỗ ở hiện nay: Hẻm 101 Lạc Long Quân, phường Quang Trung, thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum (Có mÆt).
4. Anh Nguyễn Phư ng Trình, sinh năm 1996 (đồng thời là người làm chứng ; trú tại: 106 Nguyễn Văn Linh, phường Nguyễn Trãi, thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum (Có mặt).
- Người làm chứng trong vụ “Cưỡng đoạt tài sản”:
Anh Lã Bá Bảy, sinh năm 1975; trú tại: 60 Đinh Công Tráng, phường Duy Tân, thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum (Vắng mặt).
- Người làm chứng trong vụ Nguyễn Ngọc H“Che giấu tội phạm”:
1. Anh Trần Trung Hùng, sinh năm 1987 (Vắng mặt); trú tại: 13 Trư ng Quang Trọng, thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum.
2. Anh Nguyễn Văn Trứ, sinh năm 1988 (Vắng mặt); trú tại: Tổ 1, phường Trần Hưng Đạo, thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum.
3. Chị Trư ng Thị Thanh Thủy, sinh năm 1991 (Có mặt); trú tại: 40 Tăng Bạt Hổ, phường Thắng Lợi, thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum.
- Người làm chứng trong vụ Nguyễn Hữu Đan “Che giấu tội phạm”:
1. Anh Bùi Thế Huy, sinh năm 1997 (Vắng mặt); trú tại: Thôn Kon R Wang, phường Thắng Lợi, thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum.
2. Anh Nguyễn Quốc Cường, sinh năm 1997 (Vắng mặt); trú tại: 32/3 Phù Đổng, phường Quang Trung, thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum.
3. Anh Trần Trung Hùng sinh năm 1987 (Vắng mặt); trú tại: 13 Trư ng Quang Trọng, thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum.
- Người làm chứng trong vụ “Không tố giác tội phạm”:
1. Bà Nguyễn Thị Th m, sinh năm 1970 (Vắng mặt)
- 3 -
2. Anh Nguyễn Văn Sang, sinh năm 1993 (Vắng mặt)
Cùng trú tại: Thôn Kon S Lam II, phường Trường Chinh, thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum.
3. Anh Trần Trung Hùng, sinh năm 1987 (Vắng mặt); trú tại: 13 Trư ng Quang Trọng, thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum.
4. Anh Nguyễn Phư ng Trình, sinh năm 1996 (Có mặt); trú tại: 106 Nguyễn Văn Linh, phường Nguyễn Trãi, thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum.
5. Anh Nguyễn Văn Nam, sinh năm 1992 (Có mặt); trú tại: Thôn Kon Hrachót, phường Thống Nhất, thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum.
6. Ông Nguyễn Tiến Hùng, sinh năm 1967 (Vắng mặt); trú tại: Thôn 03, xã Hòa Bình, thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ s vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Đối với hành vi “Cưỡng đoạt tài sản” của bị cáo Nguyễn Văn H:
Trong khoảng thời gian từ tháng 4/2016 đến tháng 8/2016, Nguyễn Văn H cùng với Trần Trung Hùng và đồng bọn đã nhiều lần thực hiện các hành vi “Cưỡng đoạt tài sản” trên địa bàn thành phố Kon Tum. Cụ thể như sau:
Vụ thứ nhất: Vào khoảng tháng 3 năm 2016, do không có tiền tiêu xài nên Trần Trung Hùng nảy sinh ý định đe dọa các chủ bãi khai thác cát trên địa bàn thành phố Kon Tum hàng tháng phải đưa tiền “bảo kê” cho Hùng, nếu không sẽ gây khó khăn cho việc khai thác cát và đe dọa tính mạng của các chủ bãi cát. Sau đó, Hùng đến nhà Đinh Khắc Trung rủ Trung cùng tham gia và Trung đồng ý; Hùng tiếp tục điện thoại cho Nguyễn Phư ng Trình nói Trình chở Nguyễn Văn H đến nhà của Trung để gặp. Khi Trình và Huy đến gặp Hùng, Hùng rủ cả bọn đi lấy tiền bảo kê bãi cát để chia nhau tiêu xài và tất cả đều đồng ý. Sau đó, Trung điều khiển xe mô tô chở Hùng; Trình điều khiển xe mô tô chở Huy đi đến bãi cát của ông Nguyễn Đức Du (là chủ bãi cát thuộc thôn Kons lam, phường Trường Chinh, thành phố Kon Tum . Đến n i, Hùng và Huy vào gặp ông Du đe dọa và yêu cầu ngày 10 hàng tháng phải đưa cho Hùng và đồng bọn số tiền là 20.000.000đ, nếu không đưa tiền, Hùng không cho làm, nếu cố tình làm thì sẽ xử, vừa nói Hùng vừa kéo áo lên cho ông Du biết Hùng có súng K59 đang giấu trong người. Thấy Hùng có súng nên ông Du đồng ý đưa cho Hùng và đồng bọn mỗi tháng là 10.000.000đ. Trong thời gian từ tháng 4 đến tháng 5 năm 2016, Hùng và đồng bọn đã lấy của ông Du 02 lần với số tiền là 20.000.000đ chia nhau tiêu xài.
Vụ thứ hai: Cũng với thủ đoạn trên, sau khi đe dọa lấy được tiền bãi cát của ông Du, trong ngày hôm đó cả bọn tiếp tục đi đến bãi cát của ông Trịnh Văn Bình (thuộc khu vực thôn Trung Thành, xã Vinh Quang, thành phố Kon Tum . Đến n i, không gặp ông Bình nên Hùng xin số điện thoại và gọi điện thoại cho ông Bình tự giới thiệu tên là “Gióng”, là người bảo kê làm cát, nếu muốn làm thì
- 4 -
hàng tháng phải đưa cho Hùng và đồng bọn số tiền là 20.000.000đ, nếu không đưa tiền thì không cho làm, có việc gì thì đừng trách. Nghe vậy, ông Bình sợ nên trong khoảng thời gian từ tháng 4 đến tháng 8 năm 2016, ông Bình đã đưa cho Hùng và đồng bọn tổng cộng 05 lần với tổng số tiền là 75.000.000đ.
Đối tượng Trần Trung Hùng, Nguyễn Phư ng Trình và Đinh Khắc Trung đã bị Tòa án nhân dân tỉnh Kon Tum xét xử về tội “Cưỡng đoạt tài sản” theo bản án số 45/2017/HS-ST ngày 21/12/2017.
Đối với hành vi “Che giấu tội phạm” của bị cáo Nguyễn Ngọc Hiền:
Sau khi phát hiện được Trần Trung Hùng là đối tượng có Quyết định truy nã đang ẩn náu tại một căn nhà ở khu vực bãi cát thuộc thôn Kon R Pắt, xã Đăk Blà, thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum, nên khoảng 01giờ ngày 30/11/2016, Công an thành phố Kon Tum triển khai lực lượng tiến hành vây bắt Trần Trung Hùng. Khi Công an đến gõ cửa căn nhà yêu cầu Hùng mở cửa để kiểm tra tạm trú, tạm vắng, biết là công an đến bắt mình nên Hùng không mở cửa mà gọi điện thoại cho Nguyễn Ngọc Hnhờ Hiền lên chở Hùng gấp và được Hiền đồng ý điều khiển xe máy loại Air Blade BKS 82B1-84130 đi tới nhà Hùng đang ẩn náu. Sau đó, Hùng dắt 01 khẩu súng ngắn loại K59 (bên trong có chứa 09 viên đạn , hai băng đạn loại AK47 (bên trong mỗi băng có 30 viên đạn ở lưng quần, một quả lựu đạn mỏ vịt đút trong túi quần, trên tay cầm một khẩu súng loại AK47 (bên trong có 30 viên đạn . Khoảng 10 phút sau, Hiền đi xe máy đến đứng ở ngoài đường thì bị lực lượng Công an giữ lại bên ngoài, thấy vậy Hùng từ trong nhà nói vọng ra hỏi Hiền “Công an xã hay Công an thành phố đấy bạn, có đông không”, nhưng Hiền không trả lời. Lúc này, Hùng nhìn qua khe cửa bên hông nhà thấy có 03 đến 04 người đứng trước nhà cách cửa khoảng 1,5m. Thấy vậy, Hùng ngậm đèn pin trong miệng sử dụng súng AK bắn lên trần nhà 01 viên đạn và đạp cửa đường luồng bên hông nhà đi ra ngoài, Hùng bắn thẳng về hướng trước mặt vài viên đạn, rồi bắn sang hướng bên trái vài viên đạn nữa nhưng không thấy ai, Hùng soi đèn pin thấy Hiền đang bỏ chạy, Hùng gọi Hiền “bạn quay lại chở mình chứ chạy gì bạn” nhưng Hiền vẫn bỏ chạy, Hùng đi lên phía trước nhà ngậm đèn pin trong miệng soi về phía bên phải dưới hố thấy có 02 đến 03 người đang bò ở dưới hố sát bờ đất mặt hướng về phía Hùng. Thấy vậy, Hùng hướng súng AK47 bắn khoảng 04 đến 05 viên đạn về phía đó thì thấy những người này nằm xuống (đó là các cán bộ, chiến sỹ Công an thành phố Kon Tum: Gồm anh Vư ng Hoàng Giáp, Nguyễn Thanh Tùng và Đặng Ngọc Lợi . Hậu quả làm anh Giáp bị trúng 01 viên đạn xuyên thấu vùng lưng phải đến vùng hông trái. Hùng tiếp tục dùng súng AK47 bắn về các hướng xung quanh rồi đi ra đường. Khi đến chỗ để xe của Hiền nhưng không có chìa khóa trên xe, nên Hùng tắt đèn đi bộ xuống khu vực bãi cát ở bờ sông về hướng bệnh viện Quân y 24. Sau đó, Hùng có điện thoại cho Nguyễn Văn Trứ nhờ Trứ đi đón Hùng ở gần Bệnh viện Quân y 24, Trứ đồng ý điều khiển xe máy Suzuki Sport BKS 51H1-5242 của mình đi đón Hùng. Khi Trứ đi qua cầu gần Bệnh viện Quân y 24 được khoảng 100m thì gặp Hiền đang đứng bên đường, Hiền nói với Trứ “Hùng cũng chạy thoát rồi, bạn đưa xe đây để mình qua đón Hùng”, Hiền lấy xe của Trứ đi theo hướng vào thành phố Kon Tum để đón Hùng, còn Trứ ở lại gọi Taxi đi về
- 5 -
nhà. Sau đó Hiền chở Hùng đi theo hướng cầu treo KonLo qua thôn 03, xã Hòa Bình, thành phố Kon Tum vào xã Ya Chim rồi đi đến khu vực ngã ba YaLy, thuộc huyện Chư Păh, tỉnh Gia Lai. Đến đây, Hùng xuống xe, còn Hiền quay về lại Kon Tum lấy quần áo rồi bỏ trốn.
Đối tượng Nguyễn Văn Trứ đã bị Tòa án nhân dân tỉnh Kon Tum xét xử về tội “Che giấu tội phạm” theo bản án số 45/2017/HS-ST ngày 21/12/2017.
Đối với hành vi “Che giấu tội phạm” của bị cáo Nguyễn Hữu Đan:
Sau khi lẩn trốn ở nhiều n i đến khoảng 23 giờ ngày 10/12/2016, Trần Trung Hùng đã nhờ Lê Trung Tiên đưa Hùng đến nhà Nguyễn Văn Anh (tại 32/3 Phù Đổng, phường Quang Trung, thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum để ngủ nhờ. Khi tới nhà Anh, Tiên đi về trả xe cho Tín, còn Hùng xuống xe gọi cửa nhưng Anh không có ở nhà mà chỉ có Nguyễn Quốc Cường (là con của Anh ở nhà. Hùng vào nhà Cường thì gặp bạn của Cường là Lê Trung Hiếu, Phạm Thành Lê, Nguyễn Văn Duy đang ch i ở nhà Cường, thấy có đông người nên Hùng điện thoại cho Nguyễn Hữu Đan để nói Đan chở Hùng đi, nhưng do Đan không có xe, nên Hùng mượn xe máy loại Exciter BKS 82B1-04254 của Hiếu để trong nhà Cường rồi nói Cường đi xuống đường Ngô Quyền, thành phố Kon Tum để chở Đan và Cường đồng ý. Sau đó Cường dắt xe ra đi, Hùng nói Cường tháo biển số xe ra, Cường tháo biển số xe ra rồi đi chở Đan ở đường Ngô Quyền đến ngõ nhà Cường thì Hùng đi ra để Đan chở Hùng đi.
Trên đường đi, Hùng nói Đan chở Hùng qua khu vực bờ sông gần nhà thờ thuộc phường Nguyễn Trãi, thành phố Kon Tum để lấy khẩu súng AK mà trước đó Hùng đã cất giấu khi trốn ở bờ sông ngày 08/12/2016. Đến khu vực bờ sông, Đan đứng trên đường chờ còn Hùng đi xuống dưới bờ sông lấy khẩu súng AK cầm lên rồi hỏi Đan có chỗ nào ngủ không, Đan nói với Hùng là về nhà Bùi Thế Huy (là bạn của Đan ở phường Thắng Lợi, thành phố Kon Tum để ngủ, Đan chở Hùng đến nhà Huy. Khi đến n i, Hùng gọi cửa nhà Huy và hỏi Huy cho ngủ nhờ một đêm, được Huy đồng ý nên Hùng và Đan vào ngủ, đến trưa ngày 11/12/2016, Đan chở Hùng đi vào lô cao su thuộc xã Đăk Cấm, thành phố Kon Tum để trốn, đến khoảng 19 giờ cùng ngày, Đan lại chở Hùng về khu vực bờ kè sông Đăk Bla thuộc phường Thống Nhất, thành phố Kon Tum. Tại đây, Hùng nói Đan đi mua đồ ăn và chở Huy xuống ch i, Đan đi mua đồ ăn cho Hùng và chở Huy xuống ô mía ở bờ kè n i Hùng đang lẩn trốn. Sau đó, Đan đi về, còn Hùng và Huy đi dọc bờ kè sông Đăk Bla đến khu vực ô mía gần Ngục Kon Tum để ngủ.
Đối tượng Lê Trung Tiên, Bùi Thế Huy và Nguyễn Quốc Cường đã bị Tòa án nhân dân tỉnh Kon Tum xét xử về tội “Che giấu tội phạm” theo bản án số 45/2017/HS-ST ngày 21/12/2017.
Đối với hành vi “Không tố giác tội phạm” của bị cáo Nguyễn Nhật Trường:
Sau khi nhận việc đòi nợ tiền của bà Nguyễn Thị Th m (trú tại Thôn Kon S Lam II, phường Trường Chinh, thành phố Kon Tum cho ông Nguyễn Tiến
- 6 -
Hùng (trú tại Thôn 3, xã Hòa Bình, thành phố Kon Tum . Khoảng 20 giờ ngày 06/7/2016, Trần Trung Hùng gọi điện thoại cho Nguyễn Phư ng Trình nhờ Trình lên nhà Hùng (tại Thôn Pleichum Đăkchoah, phường Ngô Mây, thành phố Kon Tum chở Hùng đến nhà của Nguyễn Văn Nam (trú tại Thôn KonHrachot, phường Thống Nhất, thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum). Khi chở Hùng đến nhà Nam thì Trình đứng ngoài, còn Hùng cầm giấy nhận nợ vào gặp Nam, rủ Nam cùng tham gia và Nam đồng ý, vì không có xe nên Nam gọi điện thoại cho Nguyễn Nhật Trường nhờ Trường đến nhà chở Nam đi. Sau đó, Trường điều khiển xe mô tô chở Nam, Trình điều khiển xe mô tô chở Hùng đến nhà bà Th m. Đến n i, Trình và Trường đứng ngoài đường đợi, còn Hùng và Nam đi vào trong nhà gặp bà Th m và con của bà Th m là Nguyễn Văn Sang. Thấy bà Th m, Hùng tự xưng tên là Gióng và Mèo (tức là Nam đến lấy nợ giúp ông Hùng, yêu cầu vợ, chồng bà Th m phải trả số tiền nợ cho ông Hùng theo giấy nhận nợ. Bà Th m nghe vậy thì thừa nhận có nợ tiền ông Hùng theo giấy nhận nợ, tuy nhiên bà không có tiền trả. Nghe vậy, Hùng rút trong người ra 01 khẩu súng K59 d lên, tháo ổ tiếp đạn lấy từng viên đạn ra cho bà Th m biết là súng thật rồi đe dọa “trong vòng 03 ngày bà Thơm phải trả ti n, nếu không Hùng sẽ xử lý”. Sau đó, Hùng và Nam bỏ đi ra ngoài, lên xe mô tô để Trình và Trường chở về.
Sau khi đến nhà bà Nguyễn Thị Th m để đòi nợ cho ông Hùng vào ngày 06/7/2016, nhưng bà Th m không trả tiền cho Hùng, nên khoảng 15 giờ ngày 12/7/2016, Hùng gọi điện thoại cho Trình nhờ Trình xuống nhà bà Th m chở con trai của bà Th m là Sang lên gặp Hùng và Trình đồng ý, điều khiển xe mô tô đến nhà gặp Sang và nói Sang đi với Trình lên gặp Hùng. Khi đến nhà Hùng (tại thôn PleiChum ĐăkChoah, phường Ngô Mây, thành phố Kon Tum) thì Trình đi về, còn Hùng bắt Sang đi vào trong nhà dùng còng số 8 còng tay, dùng dây xích cột chân của Sang lại và xích vào cửa sổ phòng khách nhà của Hùng. Sau đó Hùng lấy điện thoại của Sang gọi điện thoại cho bà Th m yêu cầu trả tiền chứ không sẽ giết và chặt tay của Sang đồng thời đưa điện thoại cho Sang để nói chuyện với bà Th m để buộc bà Th m phải trả nợ nhưng bà Th m không có tiền trả. Quá trình bắt giữ Sang, Hùng liên tục gọi điện cho bà Th m yêu cầu đưa tiền nếu không sẽ chặt tay của Sang. Đến khoảng 14 giờ ngày 14/7/2016, sau nhiều lần gọi điện đe dọa nhưng bà Th m không trả tiền nên Hùng buộc phải thả Sang ra. Sợ sau khi thả Sang thì C quan Công an sẽ phát hiện ra chỗ của Hùng nên Hùng gọi điện thoại cho Nguyễn Phư ng Trình, Nguyễn Nhật Trường, Bụp và Út (Chưa xác định nhân thân, lai lịch đến nhà của Hùng để dọn đồ cá nhân cho Hùng. Lúc này Hùng quay vào trong nhà lấy 01 cái thớt bằng gỗ, 01 con dao bầu bỏ phía ngoài hiên nhà sau đó đưa Sang ra, mở trói cho Sang, dùng súng K59 chĩa vào người của Sang, yêu cầu Sang phải tự chặt tay của mình. Do sợ Hùng bắn nên Sang đã sử dụng dao chặt đứt đốt II ngón V tay trái của mình. Sau khi ép Sang tự chặt tay xong, thấy máu chảy ở hiên nhà nên Hùng nói Trường lấy nước xối máu và cất ngón tay của Sang, rồi nói Trình sử dụng điện thoại chuyển số tiền 5.000đ từ tài khoản trong số điện thoại của Trình vào số điện thoại của Sang. Sau đó, Hùng sai Út chở Sang ra ngoài đường Quốc lộ
- 7 -
14 để Sang tự đón xe về, còn Trình chở Trường, Bụp chở Hùng đi tắt đường lô cao su qua xã Đăk Cấm. Trên đường đi, Trường có kể cho Trình nghe việc thấy Hùng ép Sang tự chặt tay của mình và nói vẫn đang cầm ngón tay của Sang, Hùng đi bên cạnh nghe thấy vậy thì nói Trường vứt ngón tay đi nên Trường đã vứt ngón tay của Sang trên đường đi. Khi đi đến một rẫy cao su thì Hùng ở lại cònTrường, Trình, Bụp đi về.
Tại bản kết luận giám định pháp y số 84, ngày 18/7/2016 của Trung tâm giám định pháp y - Bệnh viện đa khoa tỉnh Kon Tum, kết luận: Tỷ lệ tổn thư ng c thể tại thời điểm giám định của Nguyễn Văn Sang là 05%.
Đối tượng Trần Trung Hùng đã bị Tòa án nhân dân tỉnh Kon Tum xét xử về tội “Bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản” và tội “Cưỡng đoạt tài sản”; Nguyễn Văn Nam đã bị xét xử về tội “Cưỡng đoạt tài sản”; Nguyễn Phư ng Trình đã bị Tòa án nhân dân tỉnh Kon Tum xét xử về tội “Không tố giác tội phạm” theo bản án số 45/2017/HS-ST ngày 21/12/2017.
Tại bản cáo trạng số 03/CT-VKS-P2 ngày 30 tháng 3 năm 2018 của ViÖn kiÓm s¸t nh©n d©n tỉnh Kon Tum truy tố bị cáo Nguyễn Văn Huy về tội “Cưỡng đoạt tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 170 của Bộ luật hình sự năm 2015, bị cáo Nguyễn Ngọc Hvà bị cáo Nguyễn Hữu Đan cùng về tội “Che giấu tội phạm” theo khoản 1 Điều 389 của Bộ luật hình sự năm 2015, bị cáo Nguyễn Nhật Trường về tội “Không tố giác tội phạm” theo khoản 1 Điều 314 của Bộ luật hình sự năm 1999.
Tại phiên tòa, đại diện ViÖn kiÓm s¸t nh©n d©n tỉnh Kon Tum vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Héi ®ång xÐt xö:
Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 135; điểm b, o, p khoản 1 Điều 46; điểm g khoản 1 Điều 48 của Bộ luật hình sự năm 1999 (Sửa đổi, bổ sung năm 2009): xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Huy từ 42 đến 48 tháng tù.
Áp dụng khoản 1 Điều 313; điểm h, p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật hình sự năm 1999 (Sửa đổi, bổ sung năm 2009 : xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc H từ 16 đến 20 tháng tù.
Áp dụng khoản 1 Điều 313; điểm o, p khoản 1 Điều 46; điểm g khoản 1 Điều 48 của Bộ luật hình sự năm 1999 (Sửa đổi, bổ sung năm 2009 : xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu Đan từ 18 đến 24 tháng tù.
Áp dụng khoản 1 Điều 314; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 của Bộ luật hình sự năm 1999 (Sửa đổi, bổ sung năm 2009 : xử phạt bị cáo Nguyễn Nhật Trường từ 12 đến 18 tháng tù.
Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử trả lại số tiền 10.000.000đ mà gia đình bị cáo Nguyễn Văn Huy đã nộp để khắc phục hậu quả và trả lại 01 (một xe mô tô nhãn hiệu Honda AirBlack, biển kiểm soát 82B1- 408.31 cho bị cáo Nguyễn Ngọc Hiền.
Tại phiên tòa, Luật sư bào chữa cho bị cáo Nguyễn Nhật Trường cho rằng: Việc xử lý bị cáo Trường về tội “Không tố giác tội phạm” là không có c
- 8 -
sở, vì Trường không biết Trần Trung Hùng bắt cóc Sang và việc bắt cóc đó nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản. Ngoài ra, trước khi mở phiên tòa C quan điều tra cung cấp cho Viện kiểm sát để bàn giao cho Tòa án một số bản lấy lời khai là việc bổ sung chứng cứ nên vi phạm về tố tụng. Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên c sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ s vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của C quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử:
Hội đồng xét xử thấy rằng các hành vi tiến hành tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên cũng như các quyết định tố tụng của C quan điều tra Công an tỉnh Kon Tum, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kon Tum trong quá trình điều tra, truy tố đều đảm bảo thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, người bị hại và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ai ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của C quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của C quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, mặc dù Luật sư bào chữa cho bị cáo Nguyễn Nhật Trường cho rằng trước khi mở phiên tòa C quan điều tra bổ sung chứng cứ là vi phạm về tố tụng. Tuy nhiên, tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã làm rõ là những tài liệu mà C quan điều tra bàn giao bổ sung chỉ là những bản lời khai được chứng sao theo đúng quy định của pháp luật nhằm đính chính cho những bản lời khai được sao trước đây không phù hợp, ngoài ra không có tài liệu gì mới. Tại phiên tòa, c¸c bị cáo Nguyễn Văn Huy, Nguyễn Ngọc Hiền, Nguyễn Hữu Đan và Nguyễn Nhật Trường đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình; mặc dù bị cáo Nguyễn Nhật Trường có trình bày khác so với lời khai trước đó tại C quan điều tra nhằm tránh tội nhưng không có c sở thay đổi nên Hội đồng xét xử không chấp nhận. Lời khai nhận tội của c¸c bị cáo khác c bản là phù hợp với lời khai trước đây tại C quan điều tra, lời khai của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và những người làm chứng và các tài liệu chứng cứ kh¸c cã trong hồ s vụ án. Từ đó có đủ c sở để khẳng định:
Đối với bị cáo Nguyễn Văn Huy: Chỉ vì mục đích muốn có tiền để tiêu xài cá nhân nên khi nghe Trần Trung Hùng rủ đi lấy tiền bảo kê tại các bãi cát để chia nhau, Huy đã đồng ý và tham gia cùng với Hùng, Nguyễn Phư ng Trình và Đinh Khắc Trung thực hiện hành vi “Cưỡng đoạt tài sản” của 02 người bị hại với tổng số tiền là 95.000.000 đồng, trong đó cưỡng đoạt của ông Nguyễn Đức Du 02 lần lấy số tiền là 20.000.000 đồng và của ông Trịnh Văn Bình 05 lần lấy số tiền là 75.000.000 đồng, số tiền Huy được nhận là 19.000.000 đồng. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kon Tum đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn Huy về tội
- 9 -
“Cưỡng đoạt tài sản” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 170 của Bộ luật hình sự năm 2015 là có c sở, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Đối với Nguyễn Ngọc Hiền, mặc dù biết rõ Trần Trung Hùng là đối tượng đang lẩn trốn theo Quyết định truy nã về nhiều tội, hiện đang bị truy bắt tại khu vực bãi cát thuộc thôn Kon R Pắt, xã Đăk Blà, thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum nhưng Nguyễn Ngọc Hiền khi nghe Hùng điện thoại nhờ lên chở Hùng đi trốn thì Hiền đồng ý và sau khi Hùng dùng súng bắn lực lượng Công an đang thi hành công vụ để chạy trốn, thì Hiền đã lấy xe của Nguyễn Văn Trứ chở Hùng đi đến địa phận tỉnh Gia Lai để lẩn trốn. Còn đối với Nguyễn Hữu Đan dù biết Hùng là đối tượng đang bị truy nã về nhiều tội (trong đó có hành vi bắn Công an bị thư ng khi Hùng bị vây bắt nhưng Đan vẫn lấy xe của Nguyễn Quốc Cường để chở Hùng đi lẩn trốn ở nhiều n i trên địa bàn tỉnh Kon Tum và tìm chỗ ngủ, mua đồ ăn cho Hùng. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kon Tum đã truy tố các bị cáo Nguyễn Ngọc Hiền và Nguyễn Hữu Đan cùng về tội “Che giấu tội phạm” theo quy định tại khoản 1 Điều 389 của Bộ luật hình sự năm 2015 là có c sở, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Đối với bị cáo Nguyễn Nhật Trường: Mặc dù chỉ là mối quan hệ bạn bè và biết rõ về việc Trần Trung Hùng bắt cóc anh Nguyễn Văn Sang (con của bà Nguyễn Thị Th m), sau đó trực tiếp chứng kiến việc Hùng ép Sang tự chặt ngón tay của Sang để buộc gia đình bà Th m trả nợ tiền cho ông Nguyễn Tiến Hùng, nhưng Trường không tố giác hành vi phạm tội này của Hùng với C quan có thẩm quyền. Do vậy, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kon Tum đã truy tố bị cáo Nguyễn Nhật Trường về tội “Không tố giác tội phạm” theo quy định tại khoản 1 Điều 314 của Bộ luật hình sự năm 1999 là có c sở, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Về áp dụng điều luật của Bộ luật hình sự để xác định tội danh đối với các bị cáo:
Hội đồng xét xử xét thấy hành vi phạm tội của các bị cáo Nguyễn Văn Huy, Nguyễn Ngọc Hiền, Nguyễn Hữu Đanvà Nguyễn Nhật Trường đều được thực hiện trước ngày 01 tháng 01 năm 2018 (Ngày Bộ luật hình sự năm 2015 có hiệu lực thi hành và so sánh về các tội “Cưỡng đoạt tài sản” quy định tại điểm d khoản 2 Điều 170 của Bộ luật hình sự năm 2015 với tội “Cưỡng đoạt tài sản” quy định tại điểm d khoản 2 Điều 135 của Bộ luật hình sự năm 1999; tội “Che giấu tội phạm” quy định tại khoản 1 Điều 389 của Bộ luật hình sự 2015 với tội “Che giấu tội phạm” quy định tại khoản 1 Điều 313 của Bộ luật hình sự năm 1999 nhận thấy mức hình phạt tại các điều luật của hai Bộ luật hình sự đều bằng nhau; riêng đối với tội “Không tố giác tội phạm” quy định tại khoản 1 Điều 314 của Bộ luật hình sự năm 1999 có mức hình phạt tù khởi điểm nhẹ h n so với mức hình phạt tù quy định tại khoản 1 Điều 390 của Bộ luật hình sự năm 2015. Do đó, Hội đồng xét xử không áp dụng các quy định có lợi cho các bị cáo khi quyết định hình phạt theo Bé luËt h×nh sù năm 2015, mà áp dụng các điều luật của Bộ luật hình sự năm 1999 (được sửa đổi, bổ sung năm 2009 để xét xử các bị cáo.
- 10 -
Xét tính chất, møc ®é hµnh vi phạm tội của các bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, cụ thể đối với hành vi phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản” của bị cáo Nguyễn Văn Huy đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, thể hiện sự coi thường pháp luật và bản chất côn đồ; đồng thời gây mất trật tự trị an xã hội, tạo tâm lý hoang mang lo sợ cho những người bị hại và tác động xấu đến đời sống của nhân dân tại địa phư ng; đối với các bị cáo Nguyễn Ngọc Hiền và Nguyễn Hữu Đan mặc dù biết Hùng là đối tượng đang bị truy nã về nhiều tội, lại vừa bắn lực lượng Công an vây bắt để bỏ trốn nhưng Hiền, Đan vẫn giúp đỡ chở Hùng đi lẩn trốn, tìm chỗ ngủ và mua đồ ăn cho Hùng. Bị cáo Nguyễn Nhật Trường mặc dù bị Trần Trung Hùng la chửi, bắt làm nhiều việc nhưng Trường có biết Hùng bắt cóc anh Nguyễn Văn Sang và trực tiếp chứng kiến việc Hùng ép Sang tự chặt ngón tay của Sang nhằm buộc gia đình bà Nguyễn Thị Th m trả nợ tiền cho ông Nguyễn Tiến Hùng, nhưng Trường không tố giác hành vi phạm tội này của Hùng với C quan Công an. Hành vi phạm tội này của các bị cáo Nguyễn Ngọc Hiền, Nguyễn Hữu Đan và Nguyễn Nhật Trường ®ã trực tiếp x©m ph¹m ®Õn hoạt động đúng đắn của c quan tư pháp trong việc bảo vệ quyền lợi của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, làm giảm hiệu lực quản lý của các c quan, tổ chức này, gây khó khăn cho các c quan chức năng trong quá trình phát hiện, điều tra, xử lý tội phạm. Do ®ã, cÇn phải xö ph¹t các bÞ c¸o mét møc ¸n thËt nghiªm kh¾c tư ng xứng với hành vi phạm tội mà các bị cáo đã thực hiện, nên c¸ch ly bÞ c¸o ra khái ®êi sèng xã héi mét thêi gian nhất định là cần thiết, cã nh vËy míi ®ñ t¸c dông c¶i t¹o, gi¸o dôc các bÞ c¸o biÕt t«n träng ph¸p luËt, t«n träng tài sản của người khác, ®ång thêi gi÷ g×n trËt tù xã héi, t¨ng c êng hiÖu lùc qu¶n lý cña c¸c c¬ quan t ph¸p, còng nh r¨n ®e vµ phßng ngõa chung tr íc t×nh h×nh téi ph¹m ®ang ngµy cµng gia t¨ng, phøc t¹p nh hiÖn nay. Ngoài ra, đây cũng là bài học kinh nghiệm để lµm g ¬ng cảnh tỉnh đối với những ai đừng chỉ vì mối quan hệ bạn bè xã hội mà kiêng nể bao che, giúp đỡ cho kẻ phạm tội (đặc biệt là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng) trốn tránh sự trừng trị của pháp luật.
Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Bị cáo Nguyễn Văn Huy (trong khoảng thời gian từ tháng 3 năm 2016 đến tháng 8 năm 2016 đã tham gia cùng với Trần Trung Hùng, Nguyễn Phư ng Trình và Đinh Khắc Trung thực hiện 02 lần hành vi “Cưỡng đoạt tài sản” của hai người bị hại với tổng số tiền chiếm đoạt là 95.000.000 đồng (07 lần nhận tiền , phần bị cáo Huy nhận là 19.000.000 đồng. Do đó, bị cáo Huy phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Phạm tội nhi u lần” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 48 của Bộ luật hình sự năm 1999.
Đối với bị cáo Nguyễn Hữu Đan: Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo Nguyễn Hữu Đan là người đã có 02 tiền án về các tội “Cố ý gây thương tích” và “Chống người thi hành công vụ” (đã chấp hành xong hình phạt nhưng chưa được xãa ¸n tÝch) nh ng bÞ c¸o lại tiÕp tôc thùc hiÖn hµnh vi ph¹m téi “Che giấu tội phạm”. Tuy nhiên, căn cứ vào các quy định có lợi cho người phạm tội tại Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20 tháng 6 năm 2017 của Quốc Hội, khoản 3 Điều 7, Điều 107 của Bộ luật hình sự năm 2015, thì đối với tội “Chống người thi hành công
- 11 -
vụ”, vì bị cáo Đan thực hiện hành vi phạm tội này khi chưa đủ 18 tuổi (mới 17 tuổi 10 tháng 22 ngày) và là tội ít nghiêm trọng nên lần phạm tội này được coi là không có án tích. Do ®ã, Hội đồng xét xử xác định bÞ c¸o Đan chỉ có 01 tiền án về tội “Cố ý gây thương tích” nên lần phạm tội này bị cáo Đan ph¶i chÞu t×nh tiÕt t¨ng nÆng là “Tái phạm” ® îc quy ®Þnh tại điểm g khoản 1 Điều 48 của Bộ luật hình sự năm 1999.
Các bị cáo Nguyễn Ngọc Hiền và Nguyễn Nhật Trường không phải chịu tình tiết tăng nặng nào.
Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo Nguyễn Văn Huy, Nguyễn Ngọc Hiền và Nguyễn Hữu Đan đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; còn bị cáo Nguyễn Nhật Trường c bản là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Ngoài ra, bị cáo Nguyễn Văn Huy đã tác động gia đình bồi thường khắc phục một phần hậu quả về hành vi phạm tội của mình với số tiền là 10.000.000 đồng, đồng thời những người bị hại cũng có đ n bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Huy. Riêng các bị cáo Nguyễn Văn Huy, Nguyễn Hữu Đan và Nguyễn Nhật Trường sau khi biết mình bị truy nã thì các bị cáo đã ra Công an để đầu thú về hành vi phạm tội của mình; các bị cáo đều có hoàn cảnh gia đình khó khăn, riêng bị cáo Huy và Hiền có con còn nhỏ; bị cáo Nguyễn Ngọc Hiền trước khi phạm tội này là người có nhân thân tốt (chưa có tiền án, tiền sự . Do đó, cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật hình sự năm 1999 cho các bị cáo Nguyễn Văn Huy, Nguyễn Ngọc Hiền, Nguyễn Hữu Đan, Nguyễn Nhật Trường; áp dụng khoản 2 Điều 46 của Bộ luật hình sự năm 1999 cho các bị cáo Nguyễn Văn Huy, Nguyễn Hữu Đan, Nguyễn Nhật Trường và áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b khoản 1 Điều 46 của Bộ luật hình sự năm 1999 đối với bị cáo Nguyễn Văn Huy.
VÒ tr¸ch nhiÖm d©n sù:
Đối với số tiền 10.000.000đ mà gia đình bị cáo Nguyễn Văn Huy đã nộp tại Côc thi hµnh ¸n d©n sù tØnh Kon Tum để bồi thường khắc phục hậu quả cho bị cáo Huy: Hội đồng xét xử thấy rằng việc bồi hoàn lại số tiền mà bị cáo Nguyễn Văn Huy, Trần Trung Hùng, Đinh Khắc Trung, Nguyễn Phư ng Trình cưỡng đoạt của anh Trịnh Văn Bình đã được giải quyết tại bản án hình sự s thẩm số 45/2017/HS-ST ngày 21 tháng 12 năm 2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Kon Tum (đã có hiệu lực pháp luật ; tuy nhiên tại phiên tòa, bị cáo Huy muốn được dùng số tiền này để cùng với Trần Trung Hùng, Đinh Khắc Trung, Nguyễn Phư ng Trình bồi hoàn lại số tiền 75.000.000 đồng đã cưỡng đoạt cho anh Bình và các bị án Trần Trung Hùng, Đinh Khắc Trung, Nguyễn Phư ng Trình cũng nhất trí với yêu cầu này của bị cáo Huy (đồng thời, mẹ của bị cáo Huy là bà Nguyễn Thị Xuân Thanh không yêu cầu bị cáo Huy phải hoàn trả lại số tiền 10.000.000 đồng mà bà đã nộp bồi thường thay cho bị cáo Huy). Do đó, Hội đồng xét xử thấy cần tiÕp tôc t¹m gi÷ số tiền 10.000.000 đồng này ®Ó ®¶m b¶o cho c«ng t¸c thi hµnh ¸n đối với số tiền mà các bị án Trần Trung Hùng, Đinh
- 12 -
Khắc Trung, Nguyễn Phư ng Trình phải bồi hoàn lại cho anh Trịnh Văn Bình theo quyết định tại bản án hình sự s thẩm số 45/2017/HS-ST ngày 21 tháng 12 năm 2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Kon Tum.
Về vật chứngvô ¸n:
Đối với 01 (một xe mô tô nhãn hiệu Honda AirBlack, biển kiểm soát 82B1- 408.31, số máy JF63E1061755, số khung 6307FZ061738 của bị cáo Nguyễn Ngọc Hiền. Đây kh«ng ph¶i lµ c«ng cô dïng vµo viÖc ph¹m téi (bị cáo Hiền không sử dụng xe mô tô này để chở Hùng đi lẩn trốn nên tr¶ l¹i cho bÞ c¸o Hiền lµ phï hîp.
Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự s thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào ®iÓm d khoản 2 Điều 135; điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; điểm g khoản 1 Điều 48 của Bộ luật hình sự năm 1999 (Sửa đổi, bổ sung năm 2009).
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn Huy 45 (Bốn mươi lăm) tháng tï về tội “Cưỡng đoạt tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày b¾t t¹m giam (19/9/2017).
Căn cứ vào khoản 1 Điều 313; điểm p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật hình sự năm 1999 (Sửa đổi, bổ sung năm 2009 .
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Ngọc Hiền 26 (Hai mươi sáu tháng tù về tội “Che giấu tội phạm”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam (27/12/2017).
Căn cứ vào khoản 1 Điều 313; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46; điểm g khoản 1 Điều 48 của Bộ luật hình sự năm 1999 (Sửa đổi, bổ sung năm 2009
Điểm h khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20 tháng 6 năm 2017 của Quốc Hội, khoản 3 Điều 7, khoản 1 Điều 107 của Bộ luật hình sự năm 2015.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Hữu Đan 24 (Hai mươi tư tháng tù về tội “Che giấu tội phạm”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam (04/01/2018).
Căn cứ vào khoản 1 Điều 314; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 của Bộ luật hình sự năm 1999 (Sửa đổi, bổ sung năm 2009 .
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Nhật Trường 09 (Chín tháng tù về tội “Không tố giác tội phạm”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày b¾t ®Ó thi hµnh ¸n.
VÒ tr¸ch nhiÖm d©n sù:
Tiếp tục tạm giữ số tiền 10.000.000đ mà gia đình bị cáo Nguyễn Văn Huy đã nộp tại Côc thi hµnh ¸n d©n sù tØnh Kon Tum ®Ó ®¶m b¶o cho c«ng t¸c thi
- 13 -
hµnh ¸n đối với số tiền 75.000.000 đồng mà các bị án Trần Trung Hùng, Đinh Khắc Trung, Nguyễn Phư ng Trình phải bồi hoàn lại cho anh Trịnh Văn Bình theo bản án hình sự s thẩm số 45/2017/HS-ST ngày 21 tháng 12 năm 2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Kon Tum.
(Số tiền 10.000.000đ đã được C¬ quan C¶nh s¸t ®iÒu tra C«ng an tØnh Kon Tum nộp vào Kho bạc Nhà nước ngày 16 tháng 5 năm 2018 tại tài khoản số 3949.0.1054193.00000 của Cục thi hµnh ¸n d©n sù tØnh Kon Tum).
Về xö lý vật chứng:
C¨n cø vµo §iÒu 41 Bé luËt h×nh sù năm 1999, §iÒu 106 của Bé luËt tè tông h×nh sù năm 2015, tuyên trả lại: 01 (một xe mô tô nhãn hiệu Honda AirBlack, biển kiểm soát 82B1- 408.31, số máy JF63E1061755, số khung 6307FZ061738 cho bị cáo Nguyễn Ngọc Hiền.
(Theo biªn b¶n giao nhËn vËt chøng ngµy 11 tháng 5 năm 2018 gi÷a C¬ quan c¶nh s¸t ®iÒu tra C«ng an tØnh Kon Tum víi Côc Thi hµnh ¸n d©n sù tØnh Kon Tum).
Về án phí:
Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; kho¶n 1 Điều 21; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 cña Ủy ban th êng vô Quèc Héi vÒ án phí, lệ phí Tòa án. Buộc các bị cáo Nguyễn Văn Huy, Nguyễn Nhật Trường, Nguyễn Ngọc Hiền và Nguyễn Hữu Đan, mỗi bị cáo phải nộp 200.000® (Hai trăm ngàn đồng án phí hình sự s thẩm.
Căn cứ vào các Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (15/8/2018), các bị cáo vµ ng êi cã quyÒn lîi, nghÜa vô liªn quan có quyền kháng cáo bản án này lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng để xin xét xử theo trình tự phúc thẩm. Riªng nh÷ng ng êi bÞ h¹i vµ ng êi cã quyÒn lîi, nghÜa vô liªn quan v¾ng mÆt t¹i phiªn tßa ® îc quyÒn kh¸ng c¸o trong thêi h¹n 15 ngµy, kÓ tõ ngµy nhËn ® îc b¶n ¸n hoÆc b¶n ¸n ® îc niªm yÕt t¹i Ủy ban nhân dân xã, ph êng n¬i hä c tró. N¬i nhËn:
| - TAND cấp cao tại Đà Nẵng; - VKSND tØnh Kon Tum; - CA tØnh Kon Tum; - Những người tham gia tố tụng; - L u HS. - 14 - Các Hội thẩm nhân dân - 15 - | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa |