- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị L_ma túy - mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Thị Lợi phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; bị cáo Nguyễn Đức Thuyết phạm các tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 23/2026/HS-ST Ngày: 23-3-2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: ông Nguyễn Nhật Duật
Thấm phán: ông Tạ Duy Ước
Các Hội thẩm nhân dân: ông Đỗ Xuân Hoài, ông Trần Văn Sinh và ông Lê Phi Long
- Thư ký phiên tòa: bà Trần Thị Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: ông Lê Khắc Sơn - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 3 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 02/2026/TLST-HS ngày 21 tháng 01 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2026/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 3 năm 2026, đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Nguyễn Thị Lợi, sinh ngày 03/02/1974 tại tỉnh Quảng Ninh; nơi thường trú: tổ 39, khu Hà Khẩu 4, phường Việt Hưng, tỉnh Quảng Ninh; nơi ở hiện tại: số nhà 56 tổ 1, khu 7, phường Việt Hưng, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá: lớp 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hữu Đại và bà Lê Thị Vượng; có chồng là Bùi Viết Nam và có 01 con; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: (1) ngày 01/02/1999, bị Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xử phạt 10 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” (chấp hành xong bản án ngày 01/6/2008), (2) ngày 30/9/2013, bị Tòa án nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn xử phạt 09 năm tù về tội “Vận chuyển tiền giả” (chấp hành xong bản án ngày 26/8/2019).
Bị cáo bị bắt quả tang và bị áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/9/2025, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Ninh; có mặt tại phiên tòa (bị cáo Nguyễn Thị Lợi từ chối việc chỉ định người bào chữa theo quy định pháp luật).
2. Họ và tên: Nguyễn Đức Thuyết; sinh ngày 05/7/1973 tại thành phố Hải Phòng; nơi cư trú: tổ 1, khu Trới 6, phường Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá: lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đức Trà và bà Nguyễn Thị Điềm; có vợ là Vũ Phương Nga (đã ly hôn) và có 02 con; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: (1) năm 1997, bị Tòa án nhân dân huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Đánh bạc”, (2) năm 2012, bị áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Trung tâm cai nghiện tỉnh Quảng Ninh (chấp hành xong năm 2014).
Bị cáo bị giữ người trong trường hợp khẩn cấp và bị áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/9/2025, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Ninh; có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Anh Trần Quý Tự, sinh năm 1976, nơi cư trú: tổ 55, khu Hà Khẩu, phường Việt Hưng, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt.
2. Chị Nguyễn Thị Hoàn, sinh năm 1980, nơi cư trú: tổ 55, khu Hà Khẩu, phường Việt Hưng, tỉnh Quảng Ninh; có mặt.
- Người làm chứng:
1. Anh Đỗ Văn Minh, sinh năm 1983, nơi cư trú: khu Đồng Giữ, phường Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt.
2. Anh Đồng Xuân Linh, sinh năm 1995, nơi cư trú: khu Vườn Cau, phường Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt.
3. Anh Lương Văn Lợi, sinh năm 1985, nơi cư trú: khu Vườn Cau, phường Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt.
4. Anh Trần Xuân Thủy, sinh năm 1971, nơi cư trú: tổ 1, khu 7, phường Việt Hưng, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt.
- Người chứng kiến:
1. Anh Bùi Việt Hoàn, sinh năm 1973, nơi cư trú: tổ 5, khu Trới 5, phường Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt.
2. Anh Trần Trọng Duyên, sinh năm 1973, nơi cư trú: tổ 4, khu Trới 5, phường Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
1. Đối với hành vi phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” của bị cáo Nguyễn Thị Lợi:
Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 03/9/2025, tại khu vực gần nghĩa trang liệt sỹ phường Việt Hưng thuộc tổ 1, khu 7, phường Việt Hưng, tỉnh Quảng Ninh, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Quảng Ninh phát hiện, bắt quả tang Nguyễn Thị Lợi đang có hành vi cất giấu trái phép chất ma túy, mục đích để bán. Vật chứng thu giữ: tại móc treo đồ gần ổ khóa đầu xe mô tô biển số 14V1-046.78 do Lợi điều khiển (Lợi đang ngồi trên xe mô tô và dừng đỗ ở lề đường) 01 chiếc túi vải màu da cam, bên trong túi có 01 hộp vải màu đen, mở ra bên trong có 07 túi nilon chứa chất tinh thể màu trắng, 02 túi nilon đựng 162 viên nén hình tròn màu đỏ, kết quả giám định tổng số là 112,803 gam ma túy Methamphetamine (theo Kết luận giám định số 1309 ngày 10/9/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh); 01 chiếc cân điện tử; 20 vỏ túi nilon; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone gắn sim số 0867.081.422.
Cùng ngày, Cơ quan điều tra tiến hành khám xét chỗ ở của Lợi tại tổ 1, khu 7, phường Việt Hưng thu giữ 02 ống thủy tinh có bầu tròn bên trong chứa chất keo màu đen, số tiền 185.000.000 đồng. Ngày 04/9/2025, thu giữ mẫu nước tiểu của Nguyễn Thị Lợi, kết quả giám định tìm thấy chất ma tuý Methamphetamine trong nước tiểu của Lợi (Kết luận giám định số 1300 ngày 09/9/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh).
Tài liệu điều tra còn xác định từ ngày 08/8/2025 đến 26/8/2025, Nguyễn Thị Lợi đã 03 lần bán ma túy đá (Methamphetamine) cho Nguyễn Đức Thuyết tại số nhà 56, tổ 1, khu 7, phường Việt Hưng, tỉnh Quảng Ninh (Lợi thuê căn nhà này của em gái Lợi là chị Nguyễn Thị Hoàn để ở) với phương thức mua bán như sau: Khi có nhu cầu, Thuyết gọi điện thoại đặt vấn đề mua ma túy, thỏa thuận giá tiền, Lợi chia nhỏ, cân và đóng gói số lượng ma túy tương ứng với giá tiền Thuyết đặt mua rồi đóng vào túi nilon để trên hàng rào gần cổng số nhà 56 và chỉ chỗ cho Thuyết tự đến lấy. Cụ thể các lần:
- Lần thứ nhất: Tối ngày 08/8/2025, Lợi bán cho Thuyết 500.000 đồng ma túy (có khối lượng 0,5 gam Methamphetamine), Thuyết trả cho Lợi 500.000 đồng tiền mặt.
- Lần thứ hai: Trưa ngày 22/8/2025, Lợi bán cho Thuyết 500.000 đồng ma túy (có khối lượng 0,5 gam Methamphetamine), Thuyết trả cho Lợi 500.000 đồng tiền mặt.
- Lần thứ ba: Trưa ngày 26/8/2025, Lợi bán cho Thuyết 1.500.000 đồng ma túy (có khối lượng 01 gam Methamphetamine). Trong ngày, Thuyết chuyển số tiền 1.000.000 đồng từ tài khoản ngân hàng BIDV số 4400977217 của Thuyết vào tài khoản ngân hàng Techcombank số 19035030526014 của Lợi để trả tiền mua ma túy, còn nợ lại. Đến ngày 30/8/2025, Thuyết chuyển khoản trả nốt cho Lợi 500.000 đồng.
2. Đối với hành vi phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và “Mua bán trái phép chất ma túy” do bị cáo Nguyễn Đức Thuyết thực hiện:
2.1. Hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
Nguyễn Đức Thuyết và Đỗ Văn Minh là bạn bè, cả hai thỉnh thoảng có sử dụng ma túy đá (Methamphetamine). Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 01/9/2025, Minh đến nhà Thuyết ngồi chơi, Thuyết khởi xướng rủ Minh cùng sử dụng ma túy đá, Minh đồng ý. Thuyết lấy ra 01 túi nilon chứa ma túy đá (mua của Nguyễn Thị Lợi vào ngày 26/8/2025), 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy, 01 đoạn ống hút nhựa cắt vát một đầu, 01 bật lửa ga, rồi gọi Minh đi vào phòng ngủ (cạnh gian bếp). Thuyết dùng đoạn ống hút nhựa xúc một phần ma túy trong túi nilon đổ vào bầu thủy tinh của bộ sử dụng, rồi đưa cho Minh. Minh cầm bộ dụng cụ sử dụng đã có ma túy, dùng bật lửa đốt nóng ma túy chuyển thành dạng khói để hút vào cơ thể. Sử dụng xong, Minh đặt bộ dụng cụ, bật lửa xuồng nền nhà, Thuyết tự sử dụng ma túy tương tự như Minh. Cả hai lần lượt thay phiên nhau tự sử dụng khoảng 03 đến 04 lượt thì hết ma túy trong bầu thủy tinh. Thấy trong túi nilon còn một ít ma túy, Minh xin Thuyết số ma túy này rồi cầm về nhà tự sử dụng hết vào tối cùng ngày.
Đến khoảng 10 giờ ngày 03/9/2025, Công an phường Hoành Bồ kiểm tra hành chính tại nhà của Nguyễn Đức Thuyết ở tổ 1, khu Trới 6, phường Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh. Tại thời điểm kiểm tra có mặt Thuyết và Đỗ Văn Minh. Thu giữ trong ngăn kéo tủ đầu giường tại phòng ngủ của Thuyết 01 nỏ thủy tinh có bầu tròn bên trong có chứa chất keo màu vàng (là ma tuý Methamphetamine dạng vết không xác định được khối lượng - theo Kết luận giám định số 1290 ngày 07/9/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh) và 01 bật lửa ga màu đỏ tại bàn uống nước phòng khách. Ngoài ra, còn thu giữ của Thuyết 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone gắn sim số 0981.738.025. Quá trình điều tra, cả hai đều khai nhận đã cùng nhau sử dụng ma túy tại nhà Thuyết vào ngày 01/9/2025 như trên.
Kết luận giám định số 1299 ngày 09/9/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh: Tìm thấy chất ma tuý Methamphetamine trong mẫu nước tiểu ghi thu của Nguyễn Đức Thuyết, Đỗ Văn Minh.
2.2. Hành vi mua bán trái phép chất ma túy
Nguyễn Đức Thuyết là bạn bè quen biết với Đồng Xuân Linh, Lương Văn Lợi. Thuyết đã 02 lần bán ma tuý cho Linh, 01 lần bán ma túy cho Lợi với cách thức: Linh, Lợi chủ động gọi điện thoại, nhắn tin đặt vấn đề mua ma túy của Thuyết, sau khi thỏa thuận số lượng, giá cả, Thuyết đi mua ma túy của Nguyễn Thị Lợi hoặc lấy ma túy mua của Lợi trước đó chưa sử dụng hết để bán, địa điểm giao nhận ma túy tại nhà của Thuyết, cụ thể như sau:
- Lần thứ nhất: Tối ngày 08/8/2025, Thuyết bán cho Linh 500.000 đồng ma tuý đá. Khoảng 19 giờ 37 phút cùng ngày, Linh chuyển 500.000 đồng từ tài khoản ngân hàng Agribank số 8004215033064 của Linh vào tài khoản BIDV số 4400977217 của Thuyết trả tiền mua ma túy. Sau đó, Thuyết liên hệ đi mua 500.000 đồng ma túy đá của Nguyễn Thị Lợi (như trên), bớt lại một ít để sử dụng, còn lại bán cho Linh. Linh mang ma túy về tự sử dụng hết.
- Lần thứ hai: Khoảng 12 giờ 35 phút ngày 22/08/2025, Thuyết bán cho Lương Văn Lợi 500.000 đồng ma túy đá. Thuyết liên hệ đi mua ma túy của Nguyễn Thị Lợi (như trên) rồi bán cho Lương Văn Lợi vào buổi chiều cùng ngày, Lương Văn Lợi nợ tiền và mang ma túy về sử dụng hết. Ngày 25/8/2025, Lương Văn Lợi chuyển 500.000 đồng từ tài khoản ngân hàng BIDV số 0328.845.685 của Lợi vào tài khoản BIDV số 4400977217 của Thuyết trả tiền mua ma túy.
- Lần thứ ba: Khoảng 16 giờ ngày 27/8/2025, Thuyết bán cho Linh 400.000 đồng ma tuý đá. Nguồn gốc ma túy Thuyết bớt ra từ số ma túy mua của Nguyễn Thị Lợi vào ngày 26/8/2025. Linh trả tiền mặt 400.000 đồng tại nhà Thuyết, rồi mang ma túy về tự sử dụng hết.
Quá trình điều tra, các bị cáo Nguyễn Thị Lợi, Nguyễn Đức Thuyết đều khai nhận hành vi phạm tội nêu trên. Ngoài ra, Nguyễn Thị Lợi còn khai nhận nguồn gốc số ma túy bị bắt quả tang thu giữ và đã bán cho Thuyết là do Lợi mua của người đàn ông tên Đức ở tỉnh Bắc Giang (không biết nhân thân, địa chỉ cụ thể); sau khi mua được ma túy, Lợi còn bán ma túy cho một số người không quen biết khác nhưng không nhớ cụ thể.
Vật chứng, tài sản, đồ vật đã tạm giữ trong vụ án: Toàn bộ mẫu vật hoàn lại sau giám định (ma túy, dụng cụ sử dụng má túy-đã niêm phong theo quy định); 01 chiếc xe mô tô biển số 14V1-046.78, 01 chiếc cân điện tử, 20 vỏ túi nilon, 01 túi vải, 01 hộp vải, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone gắn sim số 0867.081.422, 01 Căn cước công dân, 02 ống thủy tinh có bầu tròn, số tiền 185.000.000 đồng của Nguyễn Thị Lợi; 01 bật lửa ga màu đỏ, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone gắn sim số 0981.738.025 của Nguyễn Đức Thuyết. Cơ quan điều tra đã gửi số tiền 185.000.000 đồng vào tài khoản tạm giữ của Công an tỉnh Quảng Ninh tại Kho bạc nhà nước khu vực III; các vật chứng còn lại chuyển đến Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Ninh để quản lý theo quy định của pháp luật.
Tại bản Cáo trạng số 43/CT-VKSQN-P1 ngày 19 tháng 01 năm 2026 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị Lợi về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 4 Điều 251 Bộ luật Hình sự; Nguyễn Đức Thuyết bị truy tố về các tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251, khoản 1 Điều 255 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Thị Lợi, Nguyễn Đức Thuyết thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung vụ án đã nêu và thừa nhận bị truy tố, xét xử theo như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh là đúng người, đúng tội.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án Trần Quý Tự vắng mặt tại phiên tòa và có đơn đề nghị được xin lại tài sản bị thu giữ trong vụ án là 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Lead, BKS 14V1-046.78.
Tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án Nguyễn Thị Hoàn trình bày về nguồn gốc tài sản chung của vợ chồng là chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Lead, BKS 14V1-046.78 đứng tên chồng chị là anh Trần Quý Tự và đề nghị được trả lại chiếc xe nêu trên. Đối với số tiền 185.000.000 đồng mà Cơ quan điều tra đã thu giữ của Nguyễn Thị Lợi (là chị ruột của chị Hoàn), chị Hoàn cũng khẳng định là do công việc không có thời gian để chăm sóc bố đẻ nằm viện lâu ngày nên đã giao chị gái là bị cáo Lợi số tiền trên để chi phí. Tuy nhiên do chị gái đã bị bắt, chị Hoàn đề nghị Hội đồng xét xử xem xét trả lại cho chị số tiền nêu trên.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đưa ra các tài liệu, chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của các bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Lợi phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; bị cáo Nguyễn Đức Thuyết phạm các tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm b khoản 4 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Lợi 20 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 03/9/2025.
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251, khoản 1 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm a khoản 1 Điều 55 của Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo Nguyễn Đức Thuyết từ 07 năm 06 tháng tù đến 08 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, từ 03 năm đến 04 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo Thuyết phải chấp hành hình phạt chung của hai tội là từ 10 năm 06 tháng đến 12 năm 06 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 03/9/2025.
Đề nghị xử lý vật chứng và số tiền thu giữ như sau:
Tịch thu sung nộp ngân sách nhà nước: 02 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone thu của Nguyễn Thị Lợi và Nguyễn Đức Thuyết.
Tịch thu tiêu hủy: toàn bộ ma túy hoàn lại sau giám định và dụng cụ sử dụng ma túy (đã được niêm phong theo quy định); 02 (hai) ống thủy tinh có bầu tròn; 01 (một) cân điện tử màu nâu, đã qua sử dụng, 20 (hai mươi) vỏ túi nilon; 01 (một) túi vải đã qua sử dụng; 01 (một) hộp vải màu đen, đã qua sử dụng; 01 bật lửa ga màu đỏ, đã qua sử dụng; 02 sim điện thoại.
Trả lại bị cáo Nguyễn Thị Lợi: 01 căn cước công dân mang tên Nguyễn Thị Lợi.
Trả lại cho anh Trần Quý Tự: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Lead màu đỏ cũ, đã qua sử dụng, biển kiểm soát 14V1 - 046.78.
Trả lại cho chị Nguyễn Thị Hoàn: số tiền 185.000.000 đồng thu giữ của Nguyễn Thị Lợi.
Buộc bị cáo Nguyễn Thị Lợi phải nộp số tiền 2.500.000 đồng và buộc bị cáo Nguyễn Đức Thuyết phải nộp số tiền 1.400.000 đồng để sung vào ngân sách Nhà nước.
Các bị cáo không có ý kiến tranh luận với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát và nói lời nói sau cùng, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại khác về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định pháp luật.
Về hành vi phạm tội của các bị cáo: quá trình điều tra, các bị cáo Nguyễn Thị Lợi, Nguyễn Đức Thuyết đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người làm chứng, người chứng kiến, phù hợp với vật chứng đã thu giữ; tại phiên tòa các bị cáo đều khẳng định lời khai nhận trong quá trình điều tra là tự nguyện, đúng sự thật, thừa nhận nội dung bản Cáo trạng đã nêu đúng hành vi phạm tội của bị cáo; căn cứ vào lời khai của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác, biên bản bắt người, vật chứng thu giữ, các Kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận:
Từ ngày 08/8/2025 đến ngày 03/9/2025, tại tổ 1 khu 7, phường Việt Hưng, tỉnh Quảng Ninh, Nguyễn Thị Lợi đã 03 lần bán bán trái phép tổng số 02 gam ma túy Methamphetamine với giá 2.500.000 đồng cho Nguyễn Đức Thuyết và tàng trữ trái phép 112,803 gam Methamphetamine mục đích để bán. Tổng cộng số ma túy Nguyễn Thị Lợi đã bán và tàng trữ để bán trái phép là 114,803 gam Methamphetamine.
Từ ngày 08/8/2025 đến ngày 27/8/2025, tại tổ 1 khu Trới 6, phường Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh, Nguyễn Đức Thuyết đã 03 lần bán trái phép ma túy loại Methamphetamine với giá 1.400.000 đồng cho Đồng Xuân Linh, Lương Văn Lợi. Ngoài ra, ngày 01/9/2025, tại nhà của Thuyết ở tổ 1, khu Trới 6, phường Hoành Bồ, Nguyễn Đức Thuyết đã có hành vi khởi xướng, cung cấp ma túy, địa điểm, chuẩn bị dụng cụ để tổ chức cho Đỗ Văn Minh sử dụng trái phép chất ma túy loại Methamphetamine, thì bị phát hiện, thu giữ vật chứng.
Các bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi do lỗi cố ý, xâm phạm đến chính sách của Nhà nước về quản lý các chất ma túy. Ma túy là chất gây nghiện có tác hại nhiều mặt, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe bản thân người sử dụng, đồng thời ảnh hưởng đến kinh tế gia đình và an ninh trật tự xã hội. Hành vi mua bán trái phép chất ma túy, tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy là nguyên nhân trực tiếp làm gia tăng các tệ nạn xã hội và vi phạm pháp luật, gây mất trật tự trị an địa phương, gây dư luận xấu trong nhân dân. Bản thân các bị cáo là người đã trưởng thành, có đầy đủ khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi của mình, nhận thức được tác hại nhiều mặt của ma túy nhưng vì hám lợi, ý thức chấp hành pháp luật kém nên bị cáo đã bất chấp để thực hiện hành vi phạm tội.
Hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Thị Lợi đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 4 Điều 251 Bộ luật Hình sự; hành vi của bị cáo Nguyễn Đức Thuyết đã phạm các tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251, khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh truy tố đối với các bị cáo là đúng người, đúng tội, có căn cứ pháp luật. Hành vi phạm tội của các bị cáo cần phải được xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật, đảm bảo tác dụng trừng trị, răn đe và góp phần đấu tranh phòng, chống tội phạm nói chung.
Xét vai trò của các bị cáo trong vụ án: các bị cáo chịu trách nhiệm hình sự độc lập đối với hành vi phạm tội của mình.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo Nguyễn Thị Lợi nhiều lần thực hiện hành vi phạm tội nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị Nguyễn Thị Lợi và Nguyễn Đức Thuyết đều thành khẩn khai báo và tỏ rõ ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về xử lý vật chứng và số tiền thu giữ:
Đối với toàn bộ ma túy hoàn lại sau giám định và dụng cụ sử dụng ma túy (đã được niêm phong theo quy định) cần tịch thu, tiêu hủy.
Đối với 02 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone kèm sim thu của Nguyễn Thị Lợi và Nguyễn Đức Thuyết. Các điện thoại này, hai bị cáo đều sử dụng để liên lạc trao đổi, chuyển tiền mua bán ma túy là phương tiện, công cụ phạm tội nên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước; 02 sim điện thoại gắn kèm không còn giá trị nên tịch thu tiêu hủy.
Đối với 02 (hai) ống thủy tinh có bầu tròn; 01 (một) cân điện tử màu nâu, đã qua sử dụng; 20 (hai mươi) vỏ túi nilon; 01 (một) túi vải đã qua sử dụng; 01 (một) hộp vải màu đen, đã qua sử dụng; 01 bật lửa ga màu đỏ, đã qua sử dụng là những đồ vật để sử dụng ma túy, chia nhỏ, cất giấu ma túy. Xét thấy các vật chứng này không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 (một) căn cước công dân mang tên Nguyễn Thị Lợi là giấy tờ cá nhân của bị cáo nên trả lại cho bị cáo Nguyễn Thị Lợi.
Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Lead màu đỏ cũ, đã qua sử dụng, biển kiểm soát 14V1 - 046.78. Quá trình điều tra xác định chủ sở hữu là anh Trần Quý Tự, anh Tự cho Lợi mượn xe nhưng không biết bị cáo Lợi sử dụng xe vào việc phạm tội do vậy trả lại cho anh Trần Quý Tự chiếc xe này.
Đối với số tiền 185.000.000 đồng thu giữ của Nguyễn Thị Lợi, quá trình điều tra và tại phiên tòa xác định đây là tài sản của chị Nguyễn Thị Hoàn giao cho Nguyễn Thị Lợi giữ hộ để chăm sóc bố đẻ, không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho chị Nguyễn Thị Hoàn.
Về áp dụng biện pháp tư pháp: quá trình điều tra và tại phiên tòa xác định bị cáo Nguyễn Thị Lợi đã 03 lần bán trái phép chất ma túy cho Nguyễn Đức Thuyết, thu được tổng số tiền 2.500.000 đồng. Nguyễn Đức Thuyết đã 03 lần bán trái phép chất ma túy cho Đồng Xuân Linh, Trường Văn Lợi thu được tổng số tiền 1.400.000 đồng. Số tiền này do phạm tội mà có nên buộc các bị cáo phải nộp lại để sung ngân sách Nhà nước.
Về hình phạt bổ sung: xét thấy các bị cáo trước khi phạm tội không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
Về án phí: các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Về các vấn đề khác liên quan trong vụ án:
Đối với Đỗ Văn Minh, Đồng Xuân Linh và bị cáo Nguyễn Thị Lợi có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, kết quả giám định tìm thấy chất ma túy trong nước tiểu, nhưng nhân thân đều không thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự sửa đổi năm 2025, Cơ quan điều tra đã chuyển xử phạt vi phạm hành chính theo quy định nên không đề cập giải quyết.
Đối với các đối tượng đã bán ma túy và mua ma túy của Nguyễn Thị Lợi, quá trình điều tra không xác định được nhân thân, địa chỉ nên không có cơ sở xác minh làm rõ để xử lý nên không xem xét giải quyết.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Thị Lợi phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; bị cáo Nguyễn Đức Thuyết phạm các tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Căn cứ điểm b khoản 4 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Lợi: 20 (hai mươi) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 03/9/2025.
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm a khoản 1 Điều 55 của Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức Thuyết: 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của cả hai tội là 11 (mười một) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 03/9/2025.
Căn cứ điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy:
- 01 (một) phong bì niêm phong số 1290/KL-KTHS của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh, trên phong bì có dấu đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh và chữ ký niêm phong của Vũ Việt Phương - Giám định viên, Từ Minh Hải - Điều tra viên phòng PC04 (theo Kết luận giám định số 1290/KL-KTHS ngày 07/9/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh);
- 01 (một) túi niêm phong số 1309/KL-KTHS của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh, trên túi có dán dải niêm phong có dấu đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh và chữ ký niêm phong của Vũ Việt Phương - Giám định viên, Đinh Trọng Cường - Điều tra viên phòng PC04 (theo Kết luận giám định số 1309/KL-KTHS ngày 10/9/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh).
- 02 (hai) ống thủy tinh có bầu tròn; 01 (một) cân điện tử màu nâu, đã qua sử dụng; 20 (hai mươi) vỏ túi nilon; 01 (một) túi vải đã qua sử dụng; 01 (một) hộp vải màu đen, đã qua sử dụng; 01 bật lửa ga màu đỏ, đã qua sử dụng; 02 sim điện thoại.
Tịch thu, sung nộp ngân sách Nhà nước: 01(một) điện thoại di dộng nhãn hiệu Iphone màu đen xám, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng máy bên trong (thu của Nguyễn Đức Thuyết); 01(một) điện thoại di dộng nhãn hiệu Iphone mặt lưng màu xanh cũ, đã qua sử dụng, máy bật không lên nguồn, không kiểm tra chất lượng máy bên trong (thu của Nguyễn Thị Lợi).
Trả lại cho bị cáo Nguyễn Thị Lợi: 01 (một) căn cước công dân mang tên Nguyễn Thị Lợi.
Trả lại cho anh Trần Quý Tự: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Lead màu đỏ cũ, đã qua sử dụng, biển kiểm soát 14V1 - 046.78, không kiểm tra chi tiết máy bên trong; số khung: RLHJF450XDY125470, số máy: JF45E0231417
Tình trạng vật chứng theo như Biên bản giao nhận vật chứng số 59 ngày 21/01/2026 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Quảng Ninh và Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Ninh.
Trả lại cho chị Nguyễn Thị Hoàn số tiền 185.000.000 đồng (Một trăm tám mươi lăm triệu đồng) theo Giấy nộp tiền mặt ngày 31/12/2025 của Công an tỉnh Quảng Ninh tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và phát triển Việt Nam, chi nhánh Hạ Long, phòng giao dịch Cột 8.
Buộc bị cáo Nguyễn Thị Lợi phải nộp số tiền 2.500.000đ (Hai triệu năm trăm nghìn đồng); buộc bị cáo Nguyễn Đức Thuyết phải nộp số tiền 1.400.000đ (Một triệu bốn trăm nghìn đồng) để sung vào ngân sách Nhà nước.
Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: buộc các bị cáo Nguyễn Thị Lợi và Nguyễn Đức Thuyết, mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Căn cứ vào khoản 1, khoản 4 Điều 331 và khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Viện PT 1 - VKSNS tối cao;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND tỉnh Quảng Ninh;
- Cơ quan CS điều tra CA tỉnh QN;
- Phòng Hồ sơ nghiệp vụ CA tỉnh QN;
- Cơ quan THAHS CA tỉnh QN;
- Thi hành án DS tỉnh QN;
- Trại tạm giam CA tỉnh QN;
- Bị cáo;
- Người có QL, NVLQ;
Nguyễn Nhật Duật
- Lưu HS, VP.
Hội thẩm nhân dân
Thẩm phán
Thẩm phán
Chủ tọa phiên tòa Trần Văn Sinh Lê Phi Long Đỗ Xuân Hoài
Tạ Duy Ước
Nguyễn Nhật Duật
| Nơi nhận: - VKSND tối cao; -VKSND tỉnh Quảng Ninh; - Cơ quan CSĐT CA tỉnh Quảng Ninh; - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ninh; - Cục THADS tỉnh Quảng Ninh; - Trại tạm giam CA tỉnh Quảng Ninh; - Phòng Hồ sơ nghiệp vụ CA tỉnh QN; - Bị cáo; người bào chữa; - Lưu hồ sơ, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Nhật Duật |