- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án HS: Trần Thanh H - sử dụng trái phép chất ma túy (điều 256a Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2025)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trần Thanh H phạm tội “Sử dung trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - THANH HÓA ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 23/2026/HS-ST Ngày 30 - 3 - 2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9, TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Đình Huy
Các Hội thẩm nhân dân:1. Ông Nguyễn Văn Dương.
2. Bà Nguyễn Thị Sen.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Anh - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 9, tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Khắc Duyến - Kiểm sát viên VKS ND khu vực 9 - Thanh Hóa
Ngày 30 tháng 3 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 9, tỉnh Thanh Hóa, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 24/2026/TLST- HS ngày 18 tháng 3 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2026/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 3 năm 2026, đối với:
Bị cáo: Trần Thanh H; sinh ngày 02/5/1990, tại: phường N, tỉnh Thanh Hóa
Nơi cư trú: Tổ dân phố T, phường N, tỉnh Thanh Hóa.
CCCD số 038090015326
Nghề nghiệp: Lao động tự do;trình độ văn hóa: Lớp 10/12;
Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam;
Con ông Trần Thanh C và bà Nguyễn Thị Q;
Có vợ là Nguyễn Thị H1 (đã ly hôn) và 03 con;
Tiền án: Không
Tiền sự: Ngày 26/8/2022, bị Tòa án nhân dân thị xã Nghi Sơn (nay là Tòa án nhân dân khu vực 9 - Thanh Hóa) áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc (bị cáo chấp hành xong ngày 19/9/2024).
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 06/01/2026 đến nay, hiện đang tạm giam tại Phân trại tạm giam N.
Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trần Thanh H là đối tượng trong diện quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú theo Quyết định số 203/QĐ-UBND, ngày 20/9/2024 của Chủ tịch UBND xã N (Nay là UBND phường N).
Vào trưa ngày 30/12/2025, Trần Thanh H điều khiển mô tô nhãn hiệu Honda Wave alpha BKS 36B1 - 560.66 một mình đến ngã ba cầu D, tỉnh Nghệ An gặp một người đàn ông chạy xe ôm (tự giới thiệu tên là B) để hỏi mua ma túy. H đưa cho người đàn ông này 700.000 đồng, trong đó có 200.000 đồng tiền xe ôm và 500.000 đồng tiền mua ma tuý. Một lúc sau, người đàn ông này quay lại đưa ma túy cho H (không xác định được khối lượng) rồi rời đi. Sau khi mua được ma tuý, H điều khiển xe mô tô đi đến khu đất trống gần khách sạn Đ thuộc tổ dân phố N, phường N, tỉnh Thanh Hóa để sử dụng bằng hình thức tiêm chích.
Ngày 02/01/2026, quá trình làm việc với người đang bị quản lý sau cai nghiện, Công an phường N, tỉnh Thanh Hóa nhận thấy Trần Thanh H có biểu hiện nghi vấn sử dụng ma túy nên đã tiến hành thu mẫu nước tiểu và test nhanh ma túy, kết quả H dương tính với ma túy, loại Heroin. Tổ công tác tiến hành lập biên bản vụ việc, thu giữ niêm phong mẫu vật để phục công tác điều tra theo quy định.
Tại bản kết luận giám định số 287/KL-KTHS ngày 04/01/2026, Phòng K công an tỉnh T kết luận: Trong nước tiểu của Trần Thanh H có chất ma túy, loại Morphine, C1. Morphine và C1 là sản phẩm chuyển hóa của chất ma túy nhóm O (Thuốc phiện, Heroine....)”
Trên cơ sở các tài liệu, chứng cứ thu thập được, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh T đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Trần Thanh H về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 256a của Bộ luật Hình sự
Về vật chứng của vụ án:
- Số ma túy bị cáo mua ngày 30/12/2025 bị cáo đã sử dụng hết;
- Đối với bơm tiêm H sử dụng làm công cụ tiêm chích ma túy, bị cáo khai đã vứt xuống biển sau khi sử dụng xong. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành xác minh, truy tìm nhưng không có kết quả;
- Đối với chiếc xe mô tô Honda Wave alpha BKS 36B1 – 560.66 Trần Thanh H dùng để đi mua ma túy, quá trình điều tra xác định chiếc xe mô tô nói trên thuộc quyền sở hữu của ông Trần Thanh C (bố đẻ của H). Ông C để xe ở trong sân nhà, H tự ý lấy đi mua ma túy sử dụng ông C không biết nên không có căn cứ thu giữ xử lý chiếc xe trên theo quy định.
Tại bản cáo trạng số 50/CT-VKSKV9 ngày 18/3/2026, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 - Thanh Hoá đã truy tố bị cáo Trần Thanh Hoàng về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 256a của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà Kiểm sát viên tham gia phiên toà giữ nguyên quan điểm đã truy tố về tội danh và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng: Điểm b khoản 1 Điều 256a; các điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự;
- Xử phạt Trần Thanh H từ 27 đến 30 tháng tù.
- Về vật chứng: Đề nghị không xem xét.
- Về án phí: Đề nghị buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Tại phiên toà: Bị cáo thành khẩn khai báo, thừa nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã nêu.
Phần tranh luận: Không ai có ý kiến tranh luận.
Nói lời sau cùng, bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh T, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 - Thanh Hóa và của Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều được coi là đúng pháp luật.
Tại phiên toà bị cáo Trần Thanh H đã thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời trình bày của bị cáo phù hợp với lời khai tại giai đoạn điều tra, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xác minh tại phiên toà. Do đó, có đủ cơ sở để khẳng định: Trần Thanh H là đối tượng đang trong thời hạn quản lý sau cai nghiện ma túy theo quy định của Luật Phòng, chống ma túy nhưng đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, loại Morphine, C1. Hành vi của Trần Thanh H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Sử dung trái phép chất ma túy”. Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 - Thanh Hóa truy tố bị cáo theo điểm b khoản 1 Điều 256a của Bộ luật Hình sự là hoàn toàn chính xác.
Đối với người bán trái phép chất ma túy cho H: Cơ quan CSĐT Công an tỉnh T đã áp dụng mọi biện pháp nghiệp vụ để truy tìm đối tượng bán ma túy cho H theo thông tin mà bị cáo cung cấp nhưng không có kết quả. Vì vậy không có căn cứ để điều tra, xử lý.
Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo là người có năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Bị cáo biết rõ ma túy có tác hại nhiều mặt đến đời sống xã hội, người nghiện ma túy ngày càng ốm yếu, suy kiệt sức khỏe, tinh thần, đặc biệt việc nghiện và sử dụng bằng cách tiêm chích là một trong những nguyên nhân làm lây lan căn bệnh đại dịch HIV, AIDS và cũng là nguyên nhân dẫn đến các loại tội phạm khác. Nhà nước đã có nhiều biện pháp tuyên truyền giáo dục nhằm ngăn chặn hoạt động liên quan đến tội phạm ma túy; bị cáo nhận thức rõ nhưng vẫn thực hiện hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý, là hành vi nguy hiểm cho xã hội, làm hưởng đến trật tự trị an trên địa bàn, gây hoang mang, lo sợ trong quần chúng nhân dân. Vì vậy cần xử lý nhanh chóng kịp thời để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Hành vi phạm tội của Trần Thanh H không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trong; trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo luôn thành khẩn khai báo nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Về nhân thân: Bị cáo không có nhân thân tốt. Thể hiện: Ngày 26/8/2022, bị Tòa án áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Căn cứ vào tính chất mức độ hành vi, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo; Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mới đủ điều kiện để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Theo đó, cần xử phạt bị cáo hình phạt tù có thời hạn là phù hợp.
Về phần vật chứng: Cơ quan CSĐT không truy tìm được vật chứng nên không xem xét.
Về án phí: Bị cáo Trần Thanh H thuộc trường hợp phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo, kháng nghị: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án; Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa có quyền kháng nghị bản án theo quy định tại các Điều 331; 333; 336; 337 của bộ luật Tố tụng Hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Trần Thanh H phạm tội “Sử dung trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng: Điểm b khoản 1 Điều 256a; các điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Trần Thanh H 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam (06/01/2026).
Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, buộc Trần Thanh H phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án Dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Về quyền kháng cáo, kháng nghị: Áp dụng các Điều 331; 333; 336; 337 của Bộ luật Tố tụng Hình sự, tuyên: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm . Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa có quyền kháng nghị bản án theo quy định của pháp luật.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - VKSND khu vực 9; - Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Thanh Hóa; - Bị cáo; - Phòng THADS khu vực 9 - Thanh Hoá; - Phòng giám đốc án TA tỉnh Thanh Hoá; - Lưu hồ sơ vụ án . | Lê Đình Huy |