vanban.org

Bản án 23/2026/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt Nguyễn Ngọc L 03 năm 03 tháng (ba năm, ba tháng) tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 21/10/2025. Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Ngọc L - Trần Khánh H - tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 9 – PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 23/2026/HS-ST
Ngày 30/01/2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – PHÚ THỌ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Đặng Minh Khoa

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Vũ Thị Kim Dung và bà Bùi Thị Thu Hằng.

Thư ký phiên toà: Ông Phạm Quốc Toản - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 9 – Phú Thọ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 – Phú Thọ tham gia phiên toà: Bà Vũ Thị Tuyết Nhung - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 9 – Phú Thọ, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 15/2026/HS-ST ngày 15/01/2026, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 24/2025/QĐXXST-HS ngày 19/01/2026, đối với:

Bị cáo: Nguyễn Ngọc L, sinh năm 2002

Nơi ĐKHK: Thôn Q, xã T, tỉnh Phú Thọ.

Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không.

Con ông Nguyễn Văn L1, sinh năm 1977 (đã chết); Con bà Nguyễn Thị Thanh L2, sinh năm 1977; Vợ Phó Thị T, sinh năm 2004; Có 01 con, sinh năm 2024; Gia đình có 02 chị em, bị cáo là con thứ hai.

Tiền án; tiền sự: (Không).

Nhân thân: Ngày 29/7/2021 Nguyễn Ngọc L bị Tòa án nhân dân khu vực 9 – Phú Thọ áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 01 năm 06 tháng (đã chấp hành xong).

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/10/2025 tại Trại tạm giam số 02 Công an tỉnh P, đến nay (có mặt tại phiên tòa).

Người làm chứng: Anh Trần Khánh H, sinh năm 1997

Nơi cư trú: Thôn B, xã T, tỉnh Phú Thọ, (vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do nghiện chất ma túy, nên vào khoảng 21 giờ ngày 20/10/2025, Nguyễn Ngọc L đi đến khu vực thôn Q, xã T, tỉnh Phú Thọ để mua của một người đàn ông không rõ lai lịch 02 túi nilon chứa chất ma túy với giá 700.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, bị cáo đã sử dụng một phần, số còn lại cất giấu trong túi đeo giả da màu đen đeo trước ngực nhằm mục đích sử dụng cho bản thân.

Đến khoảng 16 giờ 05 phút ngày 21/10/2025, tại khu vực ven đường Cm H

- Đ thuộc thôn B, xã T, tỉnh Phú Thọ, bị cáo Nguyễn Ngọc L đã bị Tổ công tác Công an xã T phát hiện, bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, thu giữ cùng vật chứng.

Kết luận giám định số 2818/KL-KTHS ngày 23/10/2025 của Phòng K1 Công an tỉnh P xác định:

Chất tinh thể dạng đá màu trắng thu giữ của bị cáo là ma túy, loại Methamphetamine, có tổng khối lượng 0,9422 gam (không phảy chín bốn hai hai gam), không kể bao bì. Ngoài ra, kết quả xét nghiệm nước tiểu của bị cáo cho thấy bị cáo dương tính với chất ma túy Methamphetamine.

Vật chứng được hoàn trả còn lại sau giám định, mẫu A1 = 0,8945 gam.

Cáo trạng số: 70/CT-VKSKV9 ngày 13/01/2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 – Phú Thọ, truy tố Nguyễn Ngọc L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi 2025).

Quá trình điều tra và xét hỏi tại phiên tòa, Nguyễn Ngọc L khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố.

Phần phát biểu luận tội: Đại diện Viện kiểm sát phân tích tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, trên cơ sơ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa; xem xét nhân thân người phạm tội; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Giữ nguyên nội dung cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt, căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi 2025), đề nghị xử phạt Nguyễn Ngọc L mức án từ 03 năm 03 tháng, đến 03 năm 09 tháng tù.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định, mẫu A1 = 0,8945 gam Methamphetamine và 01 túi đeo chéo giả da màu đen là công cụ dùng vào việc phạm tội.

Về án phí: Bị cáo Nguyễn Ngọc L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Phần tranh luận: Bị cáo Nguyễn Ngọc L không có tranh luận gì.

Lời nói sau cùng: Bị cáo Nguyễn Ngọc L nhận thức rõ hành vi phạm tội của mình, xin Hội đồng xét xử, xử cho bị cáo mức án thấp nhất để các bị cáo sớm được trở về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về tố tụng: Các hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát là hợp pháp, đúng trình tự pháp luật.

. Về hành vi phạm tội: Bị cáo Nguyễn Ngọc L là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi tàng trữ trái phép khối lượng 0,9422 gam (không phảy chín bốn hai hai gam) ma túy, loại Methamphetamine là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện, đã xâm phạm trực tiếp đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước về chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự, an toàn xã hội.

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang; vật chứng thu giữ; lời khai của người làm chứng; kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ căn cứ khẳng định bị cáo Nguyễn Ngọc L đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025), đúng như nội dung Cáo trạng số 70/CT-VKSKV9 ngày 13/01/2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 – Phú Thọ đã truy tố. Nội dung điều luật được quy định như sau:

1. “Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 05 năm”.

…c,“Heroine, C, M, A, Ketamine, F, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.

. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, bị cáo có nhân thân xấu (đã từng đi cai nghiện bắt buộc) nên cần cách ly khỏi xã hội một thời gian để cải tạo và giáo dục.

. Đối với người đàn ông bán ma túy cho Nguyễn Ngọc L, do không rõ lai lịch, nên chưa có căn cứ giải quyết.

. Về xử lý vật chứng: Đối với số ma túy được hoàn trả còn lại sau giám định, mẫu A1 = 0,8945 gam loại ma túy Methamphetamine và 01 túi đeo chéo màu đen. Đây là vật nhà nước cấm sử dụng, đồng thời là vật liên quan đến vụ án nên cần tịch thu tiêu hủy.

. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Ngọc L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi 2025).

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt Nguyễn Ngọc L 03 năm 03 tháng (ba năm, ba tháng) tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 21/10/2025.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định, mẫu A1 = 0,8945 gam Methamphetamine và 01 túi đeo chéo giả da màu đen đã qua sử dụng.

Nội dung vật chứng được ghi rõ trong biên bản giao nhận ngày 27/01/2026 giữa Công an tỉnh P và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 9 - Phú Thọ.

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Bị cáo Nguyễn Ngọc L phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Ngọc L có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (30/01/2026).

Cỡ chữ