vanban.org

Bản án 23/2026/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 14 - An Giang, tỉnh An Giang Tuyên án 23/03/2026 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo Chau Xi C phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”;

Xử phạt: bị cáo Chau Xi C 02 (Hai năm) tù; Thời hạn chấp hành án phạt tù được tính kể từ ngày 10/11/2025. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Chau Xi C - Sử dụng trái phép chất ma túy - sử dụng trái phép chất ma túy (điều 256a Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2025)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Chau Xi C phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 256a Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHUVỰC 14 – AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 23/2026/HS-ST
Ngày 20 tháng 3 năm 2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 14, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Thanh Hùng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Hoàng và ông Trần Thanh Hoàng

- Thư ký phiên tòa: Ông Châu Kim Sol – Thư ký Toà án nhân dân khu vực 14, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 14 – An Giang tham gia phiên tòa: Bà Neáng Ly - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 3 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 14 – An Giang xét xử sơ thẩm Cng khai vụ án hình thụ lý số: 08/2026/TLST-HS ngày 30 tháng 01 năm 2026, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2026/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 3 năm 2026, đối với bị cáo:

Chau Xi C, sinh ngày 20/10/1997, nơi sinh: xã An Cư, tỉnh An Giang; nơi cư trú: Ấp S, xã A, tỉnh A; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 5/12; Dân tộc: Khmer; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Phật giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Chau Nên và bà Hiêng Thị Lai;Tiền án, tiền sự: Không

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/11/2025 cho đến nay tại Phân trại tạm giam C Tô cơ sở 2, Trại tạm giam số 1 - Cng an tỉnh An Giang.

- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Văng Thị Vân, sinh năm 1983 là Trợ giúp viên của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước số 2 tỉnh An Giang. có mặt.

- Người làm chứng: Ông Chau Nên, sinh năm 1949 (có mặt); ông Lâm Thanh Bình, sinh năm 1979 (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 10/10/2024, Chau Xi C có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, bị Ủy ban nhân dân xã Văn Giáo (nay là xã An Cư) ra quyết định áp dụng biện pháp quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy đối với C thời hạn 01 năm kể từ ngày 11/10/2024. Đến 02/4/2025, C tiếp tục có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, cùng ngày Ủy ban nhân dân xã Văn Giáo ra quyết định dừng quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy, đồng thời ban hành Quyết định cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng đối với C, thời hạn 01 năm kể từ ngày 02/4/2025 đến ngày 02/4/2026.

Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 10/10/2025, C đi bắt nhái ngoài ruộng thuộc khu vực ấp Vĩnh Thượng, xã An Cư, tỉnh An Giang thì gặp 02 thanh niên (không rõ họ tên, địa chỉ) hỏi mua ma túy đá với giá 200.000 đồng mang về sử dụng. Đến khoảng 10 giờ 30 ngày 11/10/2025, Cng an nhân dân xã An Cư đến mời C về làm việc và test nhanh ma túy. Kết quả C dương tính với chất ma túy, nên Lực lượng Cng an tiến hành lập biên bản sự việc đối với C. Đến ngày 05/11/2025, C bị khởi tố, bắt tạm giam để điều tra.

Căn cứ Bản kết luận giám định số 883 ngày 17/10/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự - Cng an tỉnh An Giang, kết luận: Mẫu M (nước tiểu Chau Xi C) gửi giám định có chứa thành phần chất ma túy, loại Methamphetamine.

Đến ngày 05/11/2025, Cơ quan cảnh sát điều tra Cng an tỉnh An Giang ra quyết định khởi tố vụ án và khởi tố bị can Chau Xi C về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại a khoản 1 Điều 256a Bộ luật hình sự

Ngày 26/01/2026, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 14 – An Giang truy tố bị cáo Chau Xi C về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 256a Bộ luật hình sự, theo Cáo trạng số 33/CT-VKSKV14 ngày 26/01/2026.

Tại phiên tòa, bị cáo Chau Xi C khai nhận như nội dung cáo trạng đã truy tố, không có ý kiến tranh luận về tội danh và khung hình phạt mà cáo trạng đã truy tố; Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 14 – An Giang thực hành quyền Cng tố tại phiên tòa, sau khi xét hỏi, tranh luận, xem xét tính chất vụ án, mức độ, hậu quả từ hành vi phạm tội của bị cáo tác động đến xã hội, phân tích các tình tiết định tội, định khung hình phạt, đánh giá các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nêu luận tội giữ nguyên quyết định Cáo trạng truy tố và đề nghị:

- Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 256a; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự:

Xử phạt: bị cáo Chau Xi C mức án từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”

Người bào chữa cho bị cáo thống nhất với tội danh, điểm khoản điều luật do đại diện Viện kiểm sát đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ và xử phạt thấp nhất cho bị cáo.

Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Về tố tụng:

Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Cng an tỉnh An Giang, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân khu vực 14 – An Giang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện.

Xét sự vắng mặt của người làm chứng đã có lời khai trong quá trình điều tra và việc vắng mặt tại phiên tòa không gây trở ngại cho việc xét xử. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử theo quy định tại Điều 293 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Về nội dung:

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội, hoàn toàn phù hợp lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, người làm chứng, người chứng kiến về toàn bộ diễn biến về thời gian, địa điểm xảy ra hành vi phạm tội, các tình tiết khác của vụ án; Ngoài ra, còn phù hợp với tài liệu, chứng cứ khác được thu thập có trong hồ sơ. Do đó có đủ cơ sở xác định: Trong thời gian cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng, bị cáo C tiếp tục sử dụng ma túy, nên bị cáo C đến gặp 02 thanh niên (không rõ họ tên, địa chỉ) hỏi mua ma túy đá với giá 200.000 đồng về nhà sử dụng thì bị lực lượng Cng an xã An Cư đến mời về cơ quan Cng an làm việc và test nhanh ma túy. Kết quả bị cáo dương tính với chất ma túy.

Với hành vi trên, bị cáo đã phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 256a Bộ luật hình sự, có khung hình phạt tù từ 02 năm đến 03 năm.

Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 14 – An Giang truy tố đối với bị cáo về tội danh, điểm, khoản, điều luật viện dẫn là đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy; ma túy là kẻ thù của nhân loại, là gánh nặng của cả cộng đồng xã hội, có tác hại lớn đối với sức khỏe người sử dụng, khi xâm nhập vào cơ thể sẽ gây kích thích mạnh, làm cho người nghiện ma túy giảm xúc tinh thần và khi lên cơn nghiện dễ có hành vi phạm tội. Việc sử dụng trái phép chất ma túy được pháp luật nghiêm cấm, bất cứ ai có hành vi trái pháp luật liên quan đến ma túy đều được xem là hành vi nguy hiểm cho xã hội, sẽ được xử lý kịp thời và nghiêm minh.

Bị cáo đang trong thời gian cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng bị cáo vẫn tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy, với hành vi này đã được xem là phạm tội theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 256a của Bộ luật hình sự, có khung hình phạt từ 02 đến 03 năm tù.

Trong tình hình hiện nay, các tội phạm ma túy ngày càng gia tăng, phức tạp, Nhà nước ta đang ra sức để đấu tranh phòng chống các tội và tệ nạn xã hội về ma túy và đồng thời ma túy cũng là mầm móng cho các tội phạm khác, nên cần có một hình phạt tương xứng với tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo, mới đủ để cải tạo, giáo dục và góp phần vào Cng tác đấu tranh phòng ngừa các tội phạm về ma túy.

Trong vụ án này, bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; Trong giai đoạn điều tra, cũng như tại phiên tòa thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và bị cáo lao động nghèo, sống ở vùng người dân tộc có điều kiện kinh tế khó khăn nên đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự;

Bị cáo được miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm, bị cáo có quyền kháng cáo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 256a; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự hiện hành;

Tuyên bố các bị cáo Chau Xi C phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”;

Xử phạt: bị cáo Chau Xi C 02 (Hai năm) tù;

Thời hạn chấp hành án phạt tù được tính kể từ ngày 10/11/2025.

Căn cứ Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án

Bị cáo Chau Xi C được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Căn cứ Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền làm đơn kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014).

Cỡ chữ