vanban.org

Bản án 23/2026/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh và hình phạt:

Tuyên bố: Bị cáo U Sơ Toản phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Hình phạt: xử phạt U Sơ Toản 03 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 26/9/2025. Quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án. Miễn hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "U Sơ Toản - Tàng trữ trái phép ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 201…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt:
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 1 - THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 23/2026/HS - ST
Ngày: 27/01/2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Hồng Mây

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Hợi và ông Nguyễn Hồng Thăng

- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Minh Hải - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 1 - Thái Nguyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Thái Nguyên tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Cảnh Tuấn - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 01 năm 2026 tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân khu vực 1

- Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 03/2026/TLST-HS ngày 05 tháng 01 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2026/QĐXXST-HS ngày 07/01/2026, đối với bị cáo:

1. Họ và tên: U Sơ Toản, sinh ngày 15/8/1978 (tên gọi khác: không). Nơi cư trú: Tổ 75, phường Phan Đình Phùng, tỉnh Thái Nguyên.

Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ văn hoá: 7/12; Giới tính: nam; Dân tộc: Xơ Đăng; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: U Sơ Tích, đã chết và bà Đào Thị Túc, đã chết; vợ, con: không có. Gia đình bị cáo có 03 anh chị em, bị cáo là con thứ ba trong gia đình. Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Tại bản án số 215/HSST ngày 14/6/1996, Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên xử phạt Toản 04 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản công dân”. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 14/6/1996, chấp hành xong án phí ngày 28/4/2005.

Tại bản án số 60/1998/HSST ngày 15/4/1998, Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên xử phạt Toản 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân”. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 21/4/1999, chấp hành xong án phí ngày 28/4/2005.

Tại bản án số 302/1999/HSST ngày 10/12/1999, Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên và Bản án hình sự phúc thẩm số 900/HSPT ngày 23/5/2000 của Tòa án nhân dân Cấp cao tại Hà Nội xử phạt 14 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Bị cáo chấp

1

hành xong hình phạt tù ngày 10/4/2011, chấp hành xong án phí, tiền phạt ngày 16/9/2020.

Tại bản án số 375/2015//HSST ngày 29/12/2015, Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 10 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 25/01/2022, chấp hành xong án phí, tiền phạt ngày 25/5/2016.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/9/2025 cho đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 1 Công an tỉnh Thái Nguyên - Có mặt

Người chứng kiến:

Anh Nguyễn Xuân Minh Hoàng, sinh năm 1995 - vắng mặt

Nơi cư trú: Tổ 89, phường Phan Đình Phùng, tỉnh Thái Nguyên

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Hồi 05 giờ 45 phút ngày 26/9/2025, tổ công tác Công an phường Phan Đình Phùng, tỉnh Thái Nguyên làm nhiệm vụ tại khu vực ga Thái Nguyên, thuộc tổ 76, phường Phan Đình Phùng, tỉnh Thái Nguyên phát hiện một người đàn ông đang đi bộ có biểu hiện liên quan đến ma tuý. Tổ công tác yêu cầu người đàn ông dừng lại kiểm tra người này khai họ tên U Sơ Toản, phát hiện tại túi quần phía trước bên phải Toản đang mặc 01 túi nilon màu trắng, bên trong có 05 gói giấy màu trắng được bọc túi nilon màu xanh, 01 túi giấy màu trắng có hình vẽ màu đen được bọc bằng túi nilon màu hồng, bên trong mỗi gói giấy đều chứa chất bột màu trắng, Toản khai đó là ma tuý Heroine, mua của một người đàn ông không quen biết ở khu vực đầu cầu Gia Bảy, phường Phan Đình Phùng, tỉnh Thái Nguyên để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng theo quy định.

Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Thái Nguyên mở niêm phong, cân xác định khối lượng: Số chất bột màu trắng thu giữ của U Sơ Toàn có khối lượng 0,517 gam, lấy toàn bộ số bột màu trắng trên dưa vào bì niêm phong ký hiệu (A1) gửi giám định

Tại Kết luận giám định số 448/KL-KTHS ngày 04/10/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên kết luận: Mẫu chất bột màu trắng trong phong bì ký hiệu (AI) gửi giám định là chất ma tuý, loại Heroine. Khối lượng thu giữ ban đầu là 0,517 gam.

Tại Cơ quan điều tra, U Sơ Toản khai nhận: Khoảng 05 giờ 00 phút, ngày 26/9/2025 Toản đi bộ từ nhà ở tổ 75, phường Phan Đình Phùng, tỉnh Thái Nguyễn đến khu vực đầu cầu Gia Bảy thuộc phường Phan Đình Phùng, tỉnh Thái Nguyên gặp một người đàn ông không quen biết khoảng 40-45 tuổi, Toản mua 600.000 đồng tiền ma túy Heroine được 01 túi nilon màu trắng bên trong chứa 05 gói giấy màu trắng được bọc bằng nilon màu xanh, 01 gói giấy màu trắng có hình vẽ màu

2

đen được bọc bằng túi nilon màu hồng, bên trong mỗi túi đều chứa chất bột màu trắng là ma túy Heroine. Toản cất số ma túy vừa mua được vào túi quần phía trước, bên phải của mình rồi đi bộ về nhà tìm nơi sử dụng. Khi Toản đi bộ đến khu vực ga Thái Nguyên thì bị tổ công tác Công an phường Phan Đình Phùng phát hiện, thu giữ toàn bộ số ma túy Toàn đang cất giữ trong người như nêu trên.

Vật chứng của vụ án: 01 bì niêm phong ký hiệu (A2) bên trong có võ phong bì niêm phong ban đầu kỳ hiệu A. 01 bì niêm phong ký hiệu (A1) bên trong có 0,268 gam mẫu còn lại sau giám định và bỏ bao gói niêm phong gửi giảm định ký hiệu A1. Hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng của Phòng thi hành án dân sự khu vực 1- Thái Nguyên chở xử lý.

Tại bản cáo trạng số 113/CT-VKSKV1, ngày 30/12/2025 Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Thái Nguyên truy tố bị cáo U Sơ Toản về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Tại cơ quan điều tra và trước phiên toà hôm nay bị cáo khai nhận hành vi vi phạm pháp luật như bản cáo trạng đã nêu trên.

Người chứng kiến vắng mặt, Hội đồng xét xử đã công bố lời khai của Nguyễn Xuân Minh Hoàng tại cơ quan điều tra, bị cáo nhất trí với lời khai của người chứng kiến không có ý kiến gì thêm.

Kết thúc xét hỏi, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Thái Nguyên trình bày luận tội đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Bị cáo U Sơ Toản phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo U Sơ Toản từ 03 năm 6 tháng tù đến 04 năm tù.

Miễn hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo;

Xử lý vật chứng và trách nhiệm nộp án phí HSST của bị cáo.

Bị cáo không tranh luận thừa nhận việc truy tố và xét xử là không oan, đúng người, đúng tội và xin giảm nhẹ mức án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điểu tra Công an tỉnh Thái Nguyên và Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Thái Nguyên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo không khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

3

.Về căn cứ buộc tội: Hồi 05 giờ 45 phút ngày 26/9/2025, tại khu vực Ga Thái Nguyên thuộc tổ 76, phường Phan Đình Phùng, tỉnh Thái Nguyên, U Sơ Toàn có hành vi cất giữ trái phép 0,517 gam chất ma túy, loại Heroine, mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị tổ công tác của Công an phường Phan Đình Phùng, tỉnh Thái Nguyên phát hiện, bắt quả tang và thu giữ toàn bộ vật chứng.

Như vậy ý thức, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của BLHS. Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Thái Nguyên đã truy tố bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ đúng pháp luật.

Điều 249 Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 05 năm:

c) Heroine....có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam".

. Xét tính chất, mức độ hành vi của bị cáo: Xét về tính chất vụ án là nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của nhà nước về chất ma túy, gây mất an ninh, ảnh hưởng xấu đến trật tự công cộng. Ma túy là chất gây nghiện, khi sử dụng nó làm cho con người lệ thuộc vào ma túy mất đi nhân cách, đây cũng là nguyên nhân dẫn đến các loại tội phạm khác. Xét cần có mức án và buộc bị cáo cách ly xã hội để cải tạo giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung.

. Xét nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo có nhân thân xấu, đã nhiều lần bị xét xử về tội phạm liên quan đến ma túy nhưng không lấy đó là bài học để tự tu dưỡng rèn luyện bản thân mà tiếp tục lao vào con đường phạm pháp. Trong vụ án này bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: "Người phạm tội thành khẩn khai báo" quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 của Bộ luật hình sự nên có cơ sở chấp nhận mức án hình phạt mà vị đại diện Viện kiểm sát đã đề nghị tại phiên tòa công khai. Ra quyết định tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.

Bị cáo tàng trữ ma túy để sử dụng cho bản thân không có mục đích vụ lợi. Hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, bị cáo là lao động tự do nên không có thu nhập ổn định. Xét nên miễn hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.

. Về vật chứng: 01 phong bì ký hiệu A2 bên trong có vỏ phong bì niêm phong ban đầu ký hiệu A và và 01 bì niêm phong ký hiệu A1 bên trong có 0,268 gam mẫu ma túy loại Heroine được hoàn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu, xét vật chứng nêu trên là vật liên quan đến vụ án không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

4

.Về nguồn gốc số Heroine bị thu giữ U Sơ Toản khai mua của một người đàn ông không quen biết tại khu vực đầu cầu Gia Bảy, phường Phan Đình Phùng, tỉnh Thái Nguyên. Quá trình điều tra không xác định được nhân thân, lai lịch của đối tượng này nên Cơ quan cảnh sát điều tra công an tỉnh Thái Nguyên không có cơ sở làm rõ để xử lý.

. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ nêu trên.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ, áp dụng pháp luật: Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 47 BLHS; Điều 106, Điều 329 BLTTHS; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

2. Về tội danh và hình phạt:

Tuyên bố: Bị cáo U Sơ Toản phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Hình phạt: xử phạt U Sơ Toản 03 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 26/9/2025. Quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án. Miễn hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.

3.Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy: 01 bì niêm phong kí hiệu A1 bên trong có 0,268 gam mẫu hoàn lại sau giám định và vỏ bao gói ký hiệu A1; 01 bì niêm phong ký hiệu A2, trong có vỏ mẫu phong bì ban đầu ký hiệu A.

(Tình trạng, đặc điểm của vật chứng như trong mô tả tại Biên bản về việc giao nhận vật chứng ngày 31/12/2025 giữa Công an tỉnh Thái Nguyên và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 1 - Thái Nguyên).

4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm nộp ngân sách nhà nước.

5. Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo; Báo cho biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ