- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Thị Chúc Ph - Lâm Phi Th"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Thị Chúc Ph.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 23/2026/HNGĐ-ST Ngày 03/02/2026. V/v: Tranh chấp ly hôn và nuôi con |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lâm Bé Nhi
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Danh Hƣởng
2. Ông Lê Văn Thuyền
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Nhã Trúc - Thư ký Tòa án khu vực 9 – Cà Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 – Cà Mau tham gia phiên tòa: Ông Dƣơng Minh Kha - Kiểm sát viên.
Trong ngày 03 tháng 02 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 9 – Cà Mau xét xử công khai vụ án thụ lý số: 329/2025/TLST-HNGĐ, ngày 20 tháng 11 năm 2025 về việc “Tranh chấp ly hôn và nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 360/2025/QĐXXST-HNGĐ, ngày 26 tháng 12 năm 2025, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Thị Chúc Ph, sinh ngày 22/12/1996. Số căn cước công dân: xxxxxxxxxxxx; Ngày cấp: 14/02/2023. Địa chỉ: ấp ĐSĐ, xã HD, tỉnh Cà Mau.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho chị Thị Chúc Ph: Luật sƣ Nguyễn Bằng L – Văn phòng Luật sư Nguyễn Bằng Lăng thuộc Đoàn Luật sư Bạc Liêu.
2. Bị đơn: Anh Lâm Phi Th, sinh ngày 01/01/1994. Số căn cước công dân: xxxxxxxxxxxx. Địa chỉ: Ấp ĐSĐ, xã HD, tỉnh Cà Mau.
(Chị Thị Chúc Ph và Luật sư Nguyễn Bằng Lăng vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt; Anh Lâm Phi Th vắng mặt không lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và tại bảng tự khai ngày 20/11/2025 nguyên đơn chị Thị Chúc Ph trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị P và anh Th có tổ chức đám cưới trên tinh thần tự nguyện, không ai ép buộc và có tiến hành đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Lương Nghĩa, huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang vào ngày 08/9/2015. Trong thời gian đầu, vợ chồng anh chị chung sống với nhau hạnh phúc nhưng được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng thường xuyên cự cải, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, không có tiếng nói chung và hiện tại hai vợ chồng đã sống ly thân với nhau từ năm 2020 đến nay không hàn gắn lại được. Nay chị nhận thấy tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu được ly hôn với anh Lâm Phi Th.
Về quan hệ con chung: Chị P xác định trong quá trình chung sống giữa chị và anh Th có 02 người con chung là cháu Lâm Thị Hồng Th, sinh ngày 18/11/2015 và cháu Lâm Thị Hồng T, sinh ngày 03/7/2019. Hiện tại cháu Lâm Thị Hồng T đang sống chung với chị P, còn cháu Lâm Thị Hồng Th đang sống chung với anh Th. Chị P yêu cầu được nuôi cháu Lâm Thị Hồng T, sinh ngày 03/7/2019 và chị không yêu cầu cấp dưỡng cho cháu T. Chị đồng ý giao cháu Lâm Thị Hồng Th, sinh ngày 18/11/2015 cho anh Th nuôi dưỡng và chị xin không cấp dưỡng cho con.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị P không yêu cầu Toà án giải quyết. Ngoài ra, chị P không có yêu cầu gì khác.
Đối với bị đơn anh Lâm Phi Th: Tòa án có tiến hành giao thông báo thụ lý và tiến hành lấy lời khai đối với anh Lâm Phi Th nhưng anh Lâm Phi Th không có mặt ở địa phương nên không thể tiến hành giao thông báo thụ lý và không thể tiến hành lấy lời khai đối với anh Lâm Phi Th. Bên cạnh đó, Tòa án có tiến hành niêm yết các thủ tục theo quy định pháp luật do anh Lâm Phi Th không có mặt ở địa phương. Chính quyền địa phương cũng xác định, anh Lâm Phi Th vẫn còn đăng ký hộ khẩu thường trú tại ấp ĐSĐ, xã HD, tỉnh Cà Mau và hiện tại không có ở địa phương nhưng lâu lâu anh Lâm Phi Th có về địa phương một lần.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng theo quy định pháp luật.
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Từ khi tham gia tố tụng cho đến nay, nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình. Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn vắng mặt lần thứ hai không có lý do mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ.
- Ý kiến về việc giải quyết vụ án:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Thị Chúc Ph được ly hôn anh Lâm Phi Th;
2. Về quan hệ con chung: Tiếp tục giao cháu Lâm Thị Hồng T, sinh ngày 03/7/2019 cho chị Thị Chúc Ph nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Tiếp tục giao cháu Lâm Thị Hồng Th, sinh ngày 18/11/2015 cho anh Lâm Phi Th nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Chị P và anh Th không phải cấp dưỡng nuôi con chung nhưng anh chị có quyền và nghĩa vụ tới lui thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở;
3. Về quan hệ tài sản, nợ chung: Chị P không yêu cầu nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
Ngoài ra đương sự còn phải chịu tiền án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Về quan hệ pháp luật: Chị Thị Chúc Ph khởi kiện yêu cầu được ly hôn với anh Lâm Phi Th và yêu cầu giải quyết về con chung nên căn cứ khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án thụ lý giải quyết vụ án về “Tranh chấp ly hôn và nuôi con” là đúng quy định.
[2] Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn anh Lâm Phi Th có nơi đăng ký thường trú tại ấp ĐSĐ, xã HD, tỉnh Cà Mau nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025 của Quốc Hội về sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính, Luật tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án thì Tòa án nhân dân khu vực 9 – Cà Mau thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.
[3] Nguyên đơn chị Thị Chúc Ph tuy rằng vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn yêu cầu được xét xử vắng mặt. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt đối với chị Thị Chúc Ph. Bị đơn anh Lâm Phi Th vắng mặt lần thứ hai tại phiên tòa mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ điểm b, khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt đối với anh Th.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Chị P và anh Th có tổ chức đám cưới trên tinh thần tự nguyện, không ai ép buộc và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Lương Nghĩa, huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang vào ngày 08/9/2015 nên quan hệ hôn nhân giữa chị P và anh Th là hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Trong quá trình chung sống đến nay, chị P xác định giữa chị và anh Th có phát sinh nhiều mâu thuẩn, vợ chồng thường xuyên cự cải, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, chị P không thể hàn gắn với anh Th được nữa. Hiện tại hai vợ chồng đã sống ly thân với nhau từ năm 2020 đến nay. Nay chị P nhận thấy tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu được ly hôn với anh Th. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án có tiến hành xác minh được biết chị P và anh Th đã không còn sống chung với nhau từ nhiều năm nay. Vì vậy, căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình cho chị Thị Chúc Ph được ly hôn anh Lâm Phi Th.
Về quan hệ con chung: Quá trình chung sống chị P xác định giữa chị và anh Th có 02 người con chung là cháu Lâm Thị Hồng Th, sinh ngày 18/11/2015 và cháu Lâm Thị Hồng T, sinh ngày 03/7/2019. Hiện tại cháu Lâm Thị Hồng T đang sống chung với chị P còn cháu Lâm Thị Hồng Th đang sống chung với anh Th. Chị P yêu cầu được nuôi cháu Lâm Thị Hồng T, sinh ngày 03/7/2019 và chị không yêu cầu cấp dưỡng cho cháu T. Chị đồng ý giao cháu Lâm Thị Hồng Th, sinh ngày 18/11/2015 cho anh Th nuôi dưỡng và chị xin không cấp dưỡng cho con. Hội đồng xét xử xét thấy cháu T hiện đang sống với chị P, cháu đã có môi trường và cuộc sống ổn định vì vậy Hội đồng xét xử tiếp tục giao cháu Lâm Thị Hồng T cho chị P trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Còn cháu Lâm Thị Hồng Th thì đã trên 07 tuổi, tuy nhiên Toà án có tiến hành đến nhà anh Th để lấy ý kiến đối với cháu Th, tuy nhiên cháu Th không có mặt tại nhà đên Toà án không thể tiến hành lấy ý kiến đối với cháu Thuong. Xét thấy cháu Th hiện đang sống với anh Th, cháu đã có môi trường và cuộc sống ổn định. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiếp tục giao cháu Lâm Thị Hồng Th, sinh ngày 18/11/2015 cho anh Th trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Chị P và anh Th không phải cấp dưỡng nuôi con chung nhưng anh chị có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở.
Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Chị P không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì chị P phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng.
Về ý kiến phát biểu việc giải quyết vụ án của Kiểm sát viên: Hội đồng xét xử xét thấy việc đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ và được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025 của Quốc Hội về sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính, Luật tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án.
Áp dụng Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình;
Áp dụng Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Áp dụng Nghị quyết số: 01/2024/NQ-HĐTP, ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cáo về việc hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân gia đình.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Thị Chúc Ph.
1/ Về quan hệ hôn nhân: Chị Thị Chúc Ph được ly hôn anh Lâm Phi Th.
2/ Về con chung: Tiếp tục giao cháu Lâm Thị Hồng T, sinh ngày 03/7/2019 cho chị Thị Chúc Ph trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Tiếp tục giao cháu Lâm Thị Hồng Th, sinh ngày 18/11/2015 cho anh Lâm Phi Th trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Chị P và anh Th không phải cấp dưỡng nuôi con chung nhưng anh chị có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở.
3/ Về tài sản chung, nợ chung: Chị P không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không đặt ra xem xét giải quyết.
4/ Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Thị Chúc Ph phải nộp số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng chị P đã dự nộp số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí theo biên lai thu số: 0004992, ngày 20/11/2025 tại Thi hành án dân sự tỉnh Cà Mau nay chuyển thu án phí.
Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Cà Mau; - VKSND Khu vực 9 – Cà Mau; - Thi hành án Dân sự tỉnh Cà Mau; - UBND xã Lương Tâm, TP. Cần Thơ; - Đương sự. - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Lâm Bé Nhi |