vanban.org

Bản án 23/2025/HSST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 2 - Sơn La, tỉnh Sơn La Tuyên án 22/09/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

V tội danh và h nh phạt:

Tuyên bố bị cáo Lò Văn Đ phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy. Xử phạt bị cáo Lò Văn Đ 36 (Ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn tù t nh từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 15/7/2025. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lò Văn Đ phạm tội TTTPCMT - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? V tội danh và h nh phạt:
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ Luật hình sự số 86/…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 2 – SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 23/2025/HSST
Ngày 22-9-2025

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - SƠN LA

Tại điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2 – Sơn La:

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Lê Văn Tiến Dũng.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lường Thị Tươi và ông Nguyễn Quang Đạt.

- Thư ký phiên toà: Bà Lò Thị Hiền - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 2 – Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân khu vực 2 – Sơn La tham gia phiên toà: Bà Trương Thị Khánh Linh - Kiểm sát viên.

Tại điểm cầu thành phần Phân trại tạm giam khu vực TC, tỉnh Sơn La:

Ngày 22 tháng 9 năm 2025, tại điểm cầu trung tâm trụ sở Toà án nhân dân khu vực 2 - Sơn La và tại điểm cầu thành phần Phân trại tạm giam khu vực TC, tỉnh Sơn La xét xử trực tuyến sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 17/2025/TLST-HS ngày 26 tháng 8 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 26/2025/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 9 năm 2025 đối với bị cáo:

Lò Văn Đ, tên gọi khác: Không; sinh ngày: 18/6/2006 tại xã BT, tỉnh Sơn La; nơi cư trú: Bản NL, xã BT, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 09/12; dân tộc: Thái; giới t nh: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lò Văn M, sinh năm 1983 và bà Lò Thị H, sinh năm 1985; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 15 tháng 7 năm 2025 cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

Người tham gia tố tụng khác: Ông Quàng Văn Việt, ông Tòng Văn Học - Cán bộ, chiến sỹ Phân trại tạm giam khu vực TC, tỉnh Sơn La, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 14 giờ 15 phút ngày 15/7/2025, Tổ công tác Công an xã BT, tỉnh Sơn La làm nhiệm vụ tại khu vực bản NL, xã BT, tỉnh Sơn La, phát hiện bắt quả tang Lò Văn Đ có hành vi cất giữ trái phép chất ma túy.

Vật chứng thu giữ: 02 (Hai) gói gói nilon màu hồng bên trong có chứa chất bột cục màu trắng nghi là Heroine thu giữ của Lò Văn Đ (Theo Lò Văn Đ khai nhận là Heroine); 01 (Một) chiếc điện thoại di động, màn hình cảm ứng, nhãn hiệu iphone, vỏ màu trắng, IMEI: 355756070410715, đã qua sử dụng cũ. Điện thoại lắp sim thuê bao 0362967749 thu giữ của Lò Văn Đ (Theo Lò Văn Đ khai nhận là điện thoại của Đ dùng để liên lạc mua ma túy).

Hồi 18 giờ 45 phút ngày 15/7/2025, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Sơn La đã tiến hành cân tịnh toàn bộ chất bột màu trắng nghi là Heroine có trong 02 (Hai) gói nilon màu hồng thu giữ của Lò Văn Đ được khối lượng lần lượt như sau: gói nilon màu hồng thứ nhất có khối lượng 0,09gam (Không phẩy không ch n gam), rút toàn bộ 0,09gam chất bột cục màu trắng trên ký hiệu Đ1 gửi giám định. Tiến hành cân tiếp gói nilon màu hồng thứ hai được khối lượng 0,04gam (Không phẩy không bốn gam), rút toàn bộ 0,04gam (Không phẩy không bốn gam) chất bột cục màu trắng trên ký hiệu Đ2 gửi giám định.

Kết luận giám định số: 827/KL-KTHS ngày 21/7/2025 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: Mẫu gửi giám định ký hiệu Đ1, Đ2 là ma túy loại Heroine (Heroin), có tên khoa học là Diacetylmorphine. Khối lượng của mẫu gửi giám định là Đ1= 0,09gam; Đ2 = 0,04gam. Tổng khối lượng chất ma túy thu giữ của Lò Văn Đ là 0,13gam loại Heroine (Heroine). Không hoàn lại đối tượng giám định.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Lò Văn Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như sau:

Ngày 13/7/2025, Lò Văn Đ đi bộ một mình đến khu vực bản C, xã TC, tỉnh Sơn La để tìm mua ma túy về sử dụng. Khi đi đến khu vực bản C, xã TC thì Đ gặp và hỏi mua được của một người nam giới (Lò Văn Đ không biết họ tên, địa chỉ cụ thể) 01 (Một) gói Heroine với số tiền 100.000đ (Một trăm nghìn đồng). Sau khi mua được ma túy người đàn ông đi đâu Đ không biết, còn Đ cầm gói ma túy vừa mua được đi vào khu rừng thuộc bản C, xã TC, tỉnh Sơn La sử dụng bằng hình thức đốt h t hết. Đến khoảng 11 giờ 00 phút ngày 15/7/2025, Lò Văn Đ nhắn tin qua ứng dụng Messenger cho Lò Văn T, sinh năm: 2000 trú tại: bản NL, xã BT, tỉnh Sơn La có tên Facebook là “T Huyền” để hỏi mua ma túy. Lò Văn Đ hỏi Lò Văn T có ma túy không Đ muốn mua 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng). T đồng ý và bảo Đ chuyển khoản cho T để đi mua ma túy, do Đ không có tiền tài khoản nên Đ một mình đi bộ sang nhà Lò Văn T. Gặp nhau T bảo Đ đưa cho T 400.000đ (Bốn trăm nghìn đồng) để T đi tìm mua ma túy, Đ đồng ý rồi lấy ra số tiền 400.000đ (Bốn trăm nghìn đồng) đưa cho T. T cầm tiền Đ đưa rồi bảo Đ đi về nhà đợi (T đi đâu, làm gì Đ không biết). Đến khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày, do không thấy T gọi sang lấy ma túy nên Đ đã nhắn tin qua ứng dụng Messenger cho T để hỏi. Khoảng 05 (Năm) phút sau Đ đi bộ sang nhà T thấy T Đg ở nhà một mình. Gặp nhau T đưa cho Đ 02 (Hai) gói nilon màu hồng bên trong có chứa Heroine, Đ cầm gói ma túy T đưa cất vào túi quần ph a trước bên phải Đg mặc rồi đi bộ về nhà. Khi Lò Văn Đ đi được khoảng 600m thuộc địa phận bản NL, xã BT thì gặp Tổ công tác Công an xã BT, tỉnh Sơn La yêu cầu kiểm tra ma túy, thì bị phát hiện. Sau đó, tổ công tác đã áp giải Lò Văn Đ về trụ sở Uỷ ban nhân dân xã BT, tỉnh Sơn La để lập biên bản bắt người phạm tội quả tang cùng vật chứng thu giữ.

Tại bản Cáo trạng số: 18/CT-VKS-KV2 ngày 26 tháng 8 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Sơn La đã truy tố bị cáo Lò Văn Đ về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Luật số 86/2025/QH15 ngày 25/6/2025 Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự.

Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay, bị cáo Lò Văn Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân khu vực 2 – Sơn La đã truy tố và thừa nhận bản cáo trạng truy tố bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy là đúng người, đúng tội.

Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Sơn La giữ quyền công tố tại phiên toà trình bày lời luận tội, sau khi phân t ch đánh giá t nh chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, cũng như qua xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Lò Văn Đ phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 Luật số 86/2025/QH15 ngày 25/6/2025 Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015:

Xử phạt bị cáo Lò Văn Đ từ 36 (Ba mươi sáu) tháng tù đến 40 (Bốn mươi) tháng tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ Luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tuyên tịch thu tiêu hủy: Hai mảnh nilon màu hồng được cho vào 01 (một) phong bì thư niêm phong, dán k n, mặt trước ghi “Vật chứng nhập kho vụ Lò Văn Đ – Tàng trữ trái phép chất ma túy, bắt ngày 15/7/2025”.

Tịch thu sung vào Ngân sách nhà nước: Một chiếc điện thoại di động, màn hình cảm ứng, nhãn hiệu iphone, vỏ màu vàng trắng, đã qua sử dụng cũ.

(Mô tả chi tiết theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 26/8/2025 giữa Cơ quan điều tra Công an tỉnh Sơn La và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 2 – Sơn La).

Miễn toàn bộ án ph hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lò Văn Đ.

Tại phiên tòa, bị cáo Lò Văn Đ thừa nhận hành vi phạm tội và không có ý kiến tranh luận gì với vị đại diện Viện kiểm sát, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Sơn La, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, thực hiện đúng thủ tục tố tụng. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

Ngày 15/7/2025 bị cáo Lò Văn Đ đã có hành vi cất giữ trái phép 0,13 gam chất ma tuý, loại Heroine (Heroin), có tên khoa học là Diacetylmorphine trong người với mục đ ch để sử dụng thì bị phát hiện, bắt quả tang tại khu vực bản NL, xã BT, tỉnh Sơn La.

Tại phiên tòa bị cáo giữ nguyên lời khai tại cơ quan điều tra, không bổ sung thêm nội dung gì làm thay đổi nội dung của vụ án, bị cáo hoàn toàn nhất tr với hành vi phạm tội như quyết định truy tố của Viện kiểm sát.

Lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra phù hợp với kết quả điều tra, phù hợp với: Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập ngày 15/7/2025; Biên bản niêm phong vật chứng; Biên bản mở niêm phong, xác định khối lượng, lấy mẫu gửi giám định và niêm phong lại; Biên bản mở niêm phong và giao nhận đối tượng giám định; Kết luận giám định số: 827/KL-KTHS ngày 21/7/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La; lời khai của người chứng kiến.

Luật số 86/2025/QH15 ngày 25/6/2025 Luật sửa đổi bổ sung một số điều của BLHS có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2025. Nên luật này được áp dụng để khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án đối với người thực hiện hành vi phạm tội từ 0 giờ 00 phút ngày 01/7/2025. Do vậy hành vi phạm tội của bị cáo Lò Văn Đ thực hiện vào ngày 15/7/2025 được áp dụng Luật số 86/2025/QH15 ngày 25/6/2025 Luật sửa đổi bổ sung một số điều của BLHS để xét xử đối với bị cáo.

Từ các căn cứ trên có đủ cơ sở kết luận hành vi cất giữ trái phép 0,13 gam chất ma tuý, loại Heroine (Heroin), có tên khoa học là Diacetylmorphine trong người với mục đ ch để sử dụng của bị cáo Lò Văn Đ đã phạm vào tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Luật số 86/2025/QH15 ngày 25/6/2025 Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự.

Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến ch nh sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự an ninh xã hội tại địa phương. Do đó cần có mức hình phạt nghiêm khắc nhằm răn đe giáo dục đối với bị cáo, trên cơ sở xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân của bị cáo.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Ngoài ra bị cáo có ông nội Lò Văn Y được tặng huy chương kháng chiến chống Mỹ hạng nhì. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về nhân thân: Bị cáo không có tiền án, tiền sự.

Về hình phạt bổ sung (phạt tiền): Bị cáo Lò Văn Đ không có tài sản, không có đủ điều kiện và khả năng thi hành hình phạt bổ sung. Do vậy Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về nguồn gốc số ma túy bị thu giữ: Bị cáo Lò Văn Đ khai mua của Lò Văn T tại khu vực bản NL, xã BT, tỉnh Sơn La vào ngày 15/7/2025. Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã triệu tập lấy lời khai với Lò Văn T, tiến hành cho đối chất T không thừa nhận bán ma túy cho bị cáo. Ngoài lời khai của bị cáo không còn chứng cứ nào khác chứng minh. Do đó, buộc bị cáo Lò Văn Đ phải chịu trách nhiệm về số ma túy bị thu giữ.

Đối với Lò Văn T, sinh năm 2000, trú tại bản NL, xã BT, tỉnh Sơn La là người bị cáo Đ khai đã bán ma túy cho bị cáo vào ngày 15/7/2025 với giá 400.000đ (Bốn trăm nghìn đồng). Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã triệu tập lấy lời khai với Lò Văn T, tiến hành cho đối chất T không thừa nhận bán ma túy cho Đ vào vào ngày 15/7/2025, ngoài lời khai của bị cáo Lò Văn Đ ra không có căn cứ cơ sở nào khác để điều tra xử lý đối với Lò Văn T nên Cơ quan điều tra không có đủ căn cứ điều tra xử lý.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy vào ngày 13/7/2025 của bị cáo Lò Văn Đ khi Luật số 86/2025/QH15 ngày 25/6/2025 Luật sửa đổi bổ sung một số điều của BLHS đã có hiệu lực thi hành. Tuy nhiên quá trình điều tra xác định bị cáo Lò Văn Đ không thuộc trường hợp xem xét xử lý trách nhiệm hình sự về tội Sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định tại Điều 256a Bộ luật Hình sự, nhưng đã vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 23 Nghị định 144/2021/NĐ-CP. Nên Công an xã BT, tỉnh Sơn La đã ra quyết định xử phạt hành ch nh đối với Lò Văn Đ, bằng hình thức phạt tiền 1.500.000đ (Một triệu năm trăm nghìn đồng) là có căn cứ, đúng pháp luật.

Vật chứng vụ án: Đối với hai mảnh nilon màu hồng được cho vào 01 (một) phong bì thư niêm phong, dán k n, mặt trước ghi “Vật chứng nhập kho vụ Lò Văn Đ – Tàng trữ trái phép chất ma túy, bắt ngày 15/7/2025” là công cụ bị cáo dùng vào việc phạm tội và là vật không có giá trị sử dụng, cần tuyên tịch thu tiêu hủy.

Đối với một chiếc điện thoại di động, màn hình cảm ứng, nhãn hiệu iphone, vỏ màu vàng trắng đã qua sử dụng cũ là phương tiện bị cáo dùng vào việc phạm tội, cần tuyên tịch thu sung vào Ngân sách nhà nước.

(Mô tả chi tiết theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 26/8/2025 giữa Cơ quan điều tra Công an tỉnh Sơn La và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 2 – Sơn La).

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ Luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Về án ph : Bị cáo Lò Văn Đ là người dân tộc thiểu số sinh sống ở bản có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, tại phiên tòa bị cáo có ý kiến xin miễn án ph hình sự sơ thẩm, cần áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án ph và lệ ph Tòa án: Miễn án ph hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lò Văn Đ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. V tội danh và h nh phạt:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249 Luật số 86/2025/QH15 ngày 25/6/2025 Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015:

Tuyên bố bị cáo Lò Văn Đ phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Xử phạt bị cáo Lò Văn Đ 36 (Ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn tù t nh từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 15/7/2025.

Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

2. V vật chứng vụ án: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ Luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tuyên tịch thu tiêu hủy: Hai mảnh nilon màu hồng được cho vào 01 (một) phong bì thư niêm phong, dán k n, mặt trước ghi “Vật chứng nhập kho vụ Lò Văn Đ – Tàng trữ trái phép chất ma túy, bắt ngày 15/7/2025”.

Tịch thu sung vào Ngân sách nhà nước: Một chiếc điện thoại di động, màn hình cảm ứng, nhãn hiệu iphone, vỏ màu vàng trắng, đã qua sử dụng cũ.

(Mô tả chi tiết theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 26/8/2025 giữa Cơ quan điều tra Công an tỉnh Sơn La và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 2 – Sơn La).

3. V án ph : Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án ph và lệ ph Tòa án:

Miễn án ph hình sự sơ thẩm cho cáo Lò Văn Đ.

4. V quy n kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo Lò Văn Đ được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.

Cỡ chữ