- Tranh chấp gì? án hình sự — "Ngô Thị Gia L - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Căn c vào điểm h khoản 3 Điều 251; điểm s, n khoản 1 Điều 51; điểm h, g khoản 1 Điều 52; Điều 56 của Bộ luật Hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TỈNH BÌNH ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 23/2025/HS-ST Ngày: 24-3-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Thái Văn Hà
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Huỳnh Thị Kim Xuyên
Ông Nguyễn Đình Phùng
- Thư ký phiên toà: Bà Tr n Thị Thuý Tr ng - Th ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định tham gia phiên toà: Bà Đào Thanh T - Kiểm sát viên.
Ngày 2 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 19/2025/TLST-HS ngày 14 tháng 02 năm 2025 theo quyết định đ a vụ án ra xét xử số: 9/2025/QĐXXST- HS ngày 10 tháng 3 năm 2025 đối với các bị cáo:
1. Ngô Thị Gia L (tên gọi khác: N), sinh ngày 18 tháng 5 năm 2002 tại Bình Định; nơi c tr : Đ, thôn B, xã M, huyện P, tỉnh Bình Định; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Ngô Văn L1, sinh năm 1973 và bà Phan Thị T, sinh năm 1973; chồng: Phùng Quy L2, sinh năm 1995 (đã ly hôn); con: Có 02 ng i, lớn sinh năm 2021 và nhỏ sinh ngày 26/5/202 ; tiền án: Ngày 08/01/202 bị Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định xử phạt 1 năm tù về tội “Mua bán trái phép ch t ma t y tại bản án án hình sự sơ thẩm số: 01/202 /HS-ST (đã bị tạm giam t ngày 21/10/2023 đến ngày 0 /11/2023 thay đ i biện pháp cho bảo l nh). Bị cáo đ c hoãn ch p hành án theo Quyết định hoãn ch p hành án phạt tù số 21/2024/THAHS-QĐ ngày 05/6/202 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định (th i gian hoãn đến ngày 0 /6/2025), tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn ch n “C m đi khỏi nơi c tr . Bị cáo có m t tại phiên tòa.
2. Phạm Văn H, sinh ngày 12 tháng 6 năm 1996 tại thành phố Hồ Chí Minh; nơi th ng tr : A19, t A, khu phố A, ph ng Đ, Quận A, thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở hiện nay: Phòng 08, khu nhà ở liền kề chung c nhà ở xã H, ph ng N, thành phố Q, tỉnh Bình Định; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Phạm Văn H1, sinh năm 1960 và bà Nguyễn Thị Mỹ D, sinh năm: 1970; v con: ch a có; tiền án, tiền sự: Không; bị b t tạm giữ t ngày 17/6/202 chuyển tạm giam cho đến nay. Bị cáo có m t tại phiên tòa.
3. Nguyễn Văn G, sinh ngày 08 tháng 12 năm 199 tại Bình Định; nơi th ng trú: T A, khu phố D, ph ng Đ, thành phố Q, tỉnh Bình Định; chỗ ở hiện nay: T D, khu phố I, ph ng Đ, thành phố Q, tỉnh Bình Định; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1960 và bà Phạm Thị H2, sinh năm 1960; v , con: Ch a có; tiền án: Không; Tiền sự: Ngày 2 /10/2023, bị Công an thành phố Q xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Cố ý gây th ơng tích ho c gây t n hại s c khỏe cho ng i khác nh ng không bị truy c u trách nhiệm hình sự ; bị b t tạm giữ t ngày 17/6/202 chuyển tạm giam cho đến nay. Bị cáo có m t tại phiên tòa.
- Người bào chữa cho các bị cáo:
+ Ng i bào chữa cho bị cáo Ngô Thị Gia L: Ông Nguyễn Văn L3 - Luật s của Công ty L5 thuộc Đoàn luật s tỉnh B. (Có m t).
+ Ng i bào chữa cho bị cáo Phạm Văn H: Ông Lê Đình P- Luật s của Công ty L6 - chi nhánh Q thuộc Đoàn Luật s tỉnh B. (Có m t)
- Người có quy n l i và nghĩa v liên quan:
+ Ông Bùi Xuân P1, sinh năm 1997; nơi c tr : Thôn B, xã B, huyện K, tỉnh Đ k L k. (V ng m t).
+ Ông Lê Thành N1, sinh năm 1993; nơi c tr : T D, khu phố E, ph ng Q, thành Phố Q, tỉnh Bình Định. (V ng m t)
+ Ông Lê Văn L , sinh năm 1993; nơi th ng tr : T B, khu phố E, ph ng Đ, thành Phố Q, tỉnh Bình Định. (V ng m t).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đ c tóm t t nh sau:
L c 20h20’ ngày 17/6/202 , Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma t y - Công an thành phố Q, phối h p với Công an ph ng N, thành phố Q, tiến hành tu n tra trên địa bàn ph ng. Khi đến tr ớc nhà số B đ ng T, ph ng N, thành phố Q phát hiện Phạm Văn H đang điều khiển xe mô tô biển số 77H5-5105, có biểu hiện nghi v n nên tiến hành kiểm tra hành chính. Quá trình kiểm tra, Phạm Văn H đã tự nguyện giao nộp 01 gói ni lông, ch a các hạt tinh thể và 02 viên nén màu nâu nhạt có hình trái lựu đạn và khai nhận đây là ma t y mang đi bán cho ng i khác. T công tác tiến hành khám xét khẩn c p chỗ ở của H tại phòng số 08, khu nhà ở liền kề chung c nhà ở xã H, ph ng N, thành phố Q phát hiện, thu giữ 06 gói nilon ch a các hạt tinh thể; 21 viên nén màu nâu nhạt có hình trái lựu đạn; 16 viên nén màu xám, không rõ hình dạng; 01 cân điện tử; 20 gói nilon trống.
Mở rộng điều tra, vào l c 22h 5’ ngày 17/6/202 , trên đ ng N, khu phố I, ph ng Đ, thành phố Q; Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma t y Công an thành phố Q, Bình Định phát hiện và b t quả tang Nguyễn Văn G đang c t gi u 18 viên nén màu nâu nhạt có hình trái lựu đạn trong t i qu n và G khai nhận đây là ma t y c t gi u để bán cho ng i khác. Cơ quan điều tra tiến hành lập biên bản b t ng i phạm tội quả tang và thu giữ toàn bộ số ma t y trên.
Quá trình điều tra xác định các đối tượng khai nhận như sau:
Khoảng đ u tháng /202 , Phạm Văn H g p quen biết Ngô Thị Gia L tại thành phố Hồ Chí Minh, L rủ H về thành phố Q bán ma, H đồng ý. Cuối tháng 4/2024, Ngô Thị Gia L mua 01 gói “n ớc vui với giá 2.000.000 đồng và 16 viên kẹo, màu xám với giá 200.000 đồng/viên, t ng cộng 5.200.000 đồng của một ng i thanh niên (không rõ lai lịch) ở thành phố Hồ Chí Minh, rồi c t gi u trong ng i. Sau đó, L nh Bùi Xuân P1 (sinh năm 1997; nơi th ng tr : Thôn B, xã B, huyện K, tỉnh Đ kl k; nơi ở hiện tại: Nhà thuê trọ thuộc ph ng L, quận I, thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh) thuê xe ô tô chở L, H t thành phố Hồ Chí Minh về thành phố Q, Bình Định. Tại Q, Phạm Văn H thuê trọ tại phòng 08 khu nhà ở liền kề Chung c nhà ở xã H, ph ng N, thành phố Q và Ngô Thị Gia L đã mua xe mô tô biển số 77H5-5105, kiểu dáng Wave (tại cửa hàng mua bán xe máy cũ “Tài Lộc số 10 T, thành phố Q, Bình Định do Lê Văn L , sinh năm 198 ; nơi c tr : T B, khu phố E, ph ng Đ, thành phố Q, Bình Định làm chủ tiệm) giao cho H với mục đích làm ph ơng tiện đi bán ma t y cho L. Sau đó, L giao cho H 01 gói ma t y “n ớc vui và 16 viên thuốc l c màu xám để c t gi u, mục đích khi có khách hỏi mua thì H đi bán.
Phạm Văn H đã nhiều l n đi bán ma t y cho Ngô Thị Gia L, cụ thể :
L n 1: Khoảng 19h ngày 08/6/202 , Lê Thành N1 (sinh năm: 1993, nơi th ng tr : T D, khu phố E, ph ng Q, thành phố Q) liên lạc với Nguyễn Văn G qua ng dụng “Telegram hỏi mua 01 gói ma t y “n ớc vui với giá 3.000.000 đồng và nh 01 ng i đàn ông ở tiệm điện thoại (Nam không nhớ rõ địa chỉ) chuyển khoản trả tiền cho Nguyễn Văn G. Sau đó, G liên lạc giới thiệu để L bán ma túy cho N1. L gọi điện thoại nói H mang 01 gói ma t y “n ớc vui đến đ t trong chậu cây tr ớc nhà số C P, thành phố Q. Sau đó, G g p L để trả 3.000.000 đồng (L thu l i 1.000.000 đồng), L cho G 00.000 đồng và cho H 00.000 đồng.
Đến ngày 11/6/202 , L tiếp tục mua của ng i thanh niên ở thành phố Hồ Chí Minh 01 gói ma t y “khay với giá 2 .000.000 đồng và 53 viên thuốc l c, màu nâu nhạt, có hình trái lựu đạn với giá 200.000 đồng/viên, t ng cộng 3 .600.000 đồng, rồi L gửi ma t y cho xe khách B c-N1 (không nhớ rõ nhà xe) về Q cho H. Đến khoảng 09 gi ngày 12/6/202 , H đến đ ng Q, thành phố Q (đoạn siêu thị G1) nhận ma t y và mang về phòng thuê trọ mở ra bên trong có 01 gói ma t y “khay và 01 gói ni lông ch a 55 viên thuốc l c màu nâu nhạt, có hình trái lựu đạn.
L n th hai: Đến khoảng 20 gi ngày 12/6/202 Nguyễn Văn G liên lạc với L qua ng dụng “Telegram hỏi mua 30 viên thuốc l c, với giá 7.500.000 đồng, hẹn giao ma t y tại g n chân c u L, ph ng Đ, thành phố Q. Sau đó, L liên lạc sai H đem 30 viên thuốc l c màu nâu nhạt, có hình trái lựu đạn đến giao cho G. (Ly thu l i 1.500.000 đồng) L cho H 600.000 đồng tiền công.
L n th ba: Khoảng 20gi ngày 17/6/202 , Lê Thành N1 tiếp tục liên lạc với G hỏi mua 01 gói “nửa hộp 5 ma t y “khay , 02 viên thuốc l c với giá 2. 00.000 đồng. Sau đó, G liên lạc giới thiệu để L bán ma túy cho N1. L gọi điện thoại nói H mang 01 gói ma t y, khối l ng 1,0095 gam, loại Ketamine và 02 viên thuốc l c, khối l ng 1,0 62 gam, loại MDMA đi giao cho N1 tại địa chỉ 1 T, thành phố Q thì bị Cơ quan Công an kiểm tra, phát hiện, b t quả tang nh trên.
Nguyễn Văn G sau khi mua ma t y của Ngô Thị Gia L, đã trực tiếp bán ma t y, nh sau: Ngày 12 và 13/6/2024, G đã bán 12 viên thuốc l c, khối l ng 6,678 gam, loại MDMA cho ng i thanh niên tên D1 (không rõ lai lịch) với giá 3.600.000 đồng tại g n chân c u L, thành phố Q, thu l i 600.000 đồng.
Mở rộng điều tra, l c 22h 5’ ngày 17/6/202 , Cơ quan Công an phát hiện, b t quả tang Nguyễn Văn G đang c t gi u 18 viên thuốc l c, khối l ng 10,0175 gam, loại MDMA nh đã nêu trên.
- Tại Kết luận giám định số: 283/KL-KTHS ngày 21/6/202 của Phòng K Công an tỉnh B xác định:
+ Các hạt tinh thể màu tr ng đựng bên trong 01 gói nilon gửi giám định có khối l ng 1,0095 gam là ma t y loại Ketamine.
+ 02 viên nén đựng bên trong 01 cuộn gi y gửi giám định có t ng khối l ng 1,0 62 gam là ma t y loại MDMA.
+ Các hạt tinh thể màu tr ng đựng bên trong 06 gói nilon gửi giám định có t ng khối l ng 37,7693 gam là ma t y loại Ketamine.
+ 21 viên nén đựng bên trong 01 gói nilon gửi giám định có t ng khối l ng 11,7037 gam là ma t y loại MDMA.
+ 16 viên nén đựng bên trong 01 gói nilon gửi giám định có t ng khối l ng 6,1119 gam là ma t y loại MDMA.
+ 18 viên nén đựng bên trong 01 gói nilon, gửi giám định có t ng khối l ng 10,0175 gam là ma t y loại MDMA.
- Tại Kết luận giám định số: 355/KL-KTHS ngày 02/8/202 của Phòng K Công an tỉnh B xác định: Xe mô tô biển số: 77H5-5105, kiểu dáng Wave, màu sơn đỏ, có số máy VKV1P52FMH-R 08890 là số nguyên thủy và số khung VKVDCH075UM 08890 là số nguyên thủy.
- Vật ch ng thu giữ của vụ án gồm:
+ 01 (một) bì th dán kín niêm phong 03 d u tròn của “Phòng K - Công an tỉnh B , có chữ ký của Nguyễn Thành T1, Lê Tu n T2, Tr n Chí T3 (Mỗi ng i 01 chữ ký), bên ngoài bì th ghi: H3 lại đối t ng giám định: Vỏ, bao bì đựng mẫu vật; 0,7879 gam mẫu A1; 0,5177 gam mẫu A2; 36,6619 gam mẫu A3; 10,0551 gam mẫu A ; 5,3269 gam mẫu A5 và 8,3 85 gam mẫu A6 còn lại sau giám định.
+ 01 (một) cân điện tử màu đen, đã qua sử dụng.
+ 20 (hai m ơi) gói nilon trống.
+ 01 (một) xe mô tô HondaWave, g n biển số:77H5-5105, đã qua sử dụng.
+ 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone, g n sim số 0765820102, m t kính phía tr ớc có tình trạng bị n t vỡ, đã qua sử dụng.
+ 01 (một) điện thoại di động iphone XS, màu vàng đồng, số máy: MT992LL/A, số sê ri: C39XG5N0KPFW, số imei : 3572070932726 9, có eSim 0777888910, đã qua sử dụng.
+ 01 (một) điện thoại di động iphone 6S, màu xám, số máy: MKRY2LL/A, số sê ri: DNQQQCE8GRY9, số imei : 355 2 077539131, đã qua sử dụng.
+ 01 (một) điện thoại di động màu đen, m t l ng có dòng chữ NOKIA, g n sim 0568236323, đã qua sử dụng.
Tại Bản cáo trạng số: 25/CT-VKSBĐ-P1 ngày 12/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định đã truy tố các bị cáo Ngô Thị Gia L, Phạm Văn H về tội “Mua bán trái phép ch t ma t y theo điểm h khoản 3 Điều 251 Bộ luật Hình sự và bị cáo Nguyễn Văn G về tội “Mua bán trái phép ch t ma t y theo điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình nh bản cáo trạng đã nêu.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng:
- Điểm h khoản 3 Điều 251; điểm s, n khoản 1 Điều 51; điểm h, g khoản 1 Điều 52 ; Điều 56 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Ngô Thị Gia L t 16 năm đến 17 năm tù về tội “Mua bán trái phép ch t ma t y .T ng h p hình phạt 1 năm của bản án hình sự sơ thẩm số: 01/202 /HS-ST ngảy 08/01/202 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định đối với bị cáo.
- Điểm h khoản 3 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Phạm Văn H t 15 năm đến 16 năm tù về tội “Mua bán trái phép ch t ma t y .
- Điểm i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn G t 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép ch t ma t y .
- Về xử lý vật ch ng: Căn c Điều 7 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử:
* Tuyên tịch thu tiêu hủy :
+ 01 (một) bì th dán kín niêm phong 03 d u tròn của “Phòng K - Công an tỉnh B , có chữ ký của Nguyễn Thành T1, Lê Tu n T2, Tr n Chí T3 (Mỗi ng i 01 chữ ký), bên ngoài bì th ghi: H3 lại đối t ng giám định: Vỏ, bao bì đựng mẫu vật; 0,7879 gam mẫu A1; 0,5177 gam mẫu A2; 36,6619 gam mẫu A3; 10,0551 gam mẫu A ; 5,3269 gam mẫu A5 và 8,3 85 gam mẫu A6 còn lại sau giám định.
+ 01 (một) cân điện tử màu đen, đã qua sử dụng.
+ 20 (hai m ơi) gói nilon trống.
* Tuyên tịch sung ngân sách .
+ 01 (một) xe mô tô HondaWave, g n biển số:77H5-5105, đã qua sử dụng.
+ 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone, g n sim số 0765820102, m t kính phía tr ớc có tình trạng bị n t vỡ, đã qua sử dụng.
+ 01 (một) điện thoại di động iphone XS, màu vàng đồng, số máy: MT992LL/A, số sê ri: C39XG5N0KPFW, số imei : 3572070932726 9, có eSim 0777888910, đã qua sử dụng.
+ 01 (một) điện thoại di động iphone 6S, màu xám, số máy: MKRY2LL/A, số sê ri: DNQQQCE8GRY9, số imei : 355 2 077539131, đã qua sử dụng.
+ 01 (một) điện thoại di động màu đen, m t l ng có dòng chữ NOKIA, g n sim 0568236323, đã qua sử dụng.
- Luật s bào chữa cho bị cáo cho Ngô Thị Gia L phát biểu luận c bào chữa: Thống nh t nh Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố bị cáo L về tội “Mua bán trái phép ch t ma tuý theo khoản 3 điều 251 Bộ luật Hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét bị cáo phạm tội trong l c có thai, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo có con còn nhỏ, hoàn cảnh khó khăn, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, đề nghị xử phạt bị cáo khởi điểm khung hình phạt là phù h p.
- Luật s bào chữa cho bị cáo Phạm Văn H phát biểu luận c bào chữa: Đề nghị Kiểm sát viên c n làm rõ 12 viên ma t y mà bị cáo G bán cho một ng i tên D1 có phải cùng chủng loại với 18 viên ma tuý còn lại khi bị b t quả tang không. Đề nghị HĐXX xem xét bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; gia đình bị cáo đã nộp 600.000 đồng tiền thu l i b t chính, gia đình có công cách mạng; bị cáo phạm tội do bị cáo L lôi kéo, bị cáo phạm tội với vai trò đồng phạm gi p s c. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, đề nghị xử phạt bị cáo th p nh t của khung hình phạt mà bị cáo đã phạm tội là phù h p.
- Tại phiên tòa các bị cáo không bào chữa, không tranh luận với Đại diện Viện kiểm sát, chỉ xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn c vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đ c thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định nh sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đ ng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và xét xử, các bị cáo và ng i tham gia tố tụng khác không có ý kiến ho c khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ng i tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ng i tiến hành tố tụng đã thực hiện đều h p pháp.
L i khai của các bị cáo tại phiên tòa phù h p với l i khai của ng i có quyền l i, ngh a vụ liên quan; ng i làm ch ng và phù h p với các tài liệu ch ng c khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận.
Ma tuý là ch t gây nghiện nguy hiểm do nhà n ớc độc quyền quản lý, nghiêm c m mọi t ch c, cá nhân mua bán, tàng trữ, sử dụng trái phép ch t ma tuý. Tuy nhiên, vì hám l i nên vào khoảng cuối tháng /202 đến tháng 6/2024, Ngô Thị Gia L đã 02 l n mua ma t y của một ng i thanh niên (không rõ lai lịch) với số l ng 01 gói “n ớc vui ; 01 gói ma t y “khay ; 16 viên kẹo; 53 viên thuốc l c màu nâu nhạt, có hình trái lựu đạn màu xám, với t ng số tiền 39.800.000 đồng. Sau đó, L đem về giao cho Phạm Văn H để bán lại kiếm l i. Bị cáo H đã bán 16,6955 gam MDMA và 01 gói ma t y “n ớc vui với số tiền 10.500.000 đồng, thu l i b t chính 2.500.000 đồng. Ngoài ra, Cơ quan Công an đã phát hiện, thu giữ trong ng i và tại chỗ ở của Phạm Văn H 38,7788 gam Ketamine và 18,8618 gam MDMA. Do đó, bị cáo Ngô Thị Gia L phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi mua bán trái phép ch t ma tuý với t ng khối l ng là 38,7788 gam Ketamine và 35,5573 gam MDMA.
Đối với Phạm Văn H biết rõ Ngô Thị Gia L mua ma tuý để bán, là vi phạm pháp luật nh ng vẫn tham gia gi p s c nhận 38,7788 gam Ketamine và 35,5573 gam MDMA với mục đích đi bán và đã 02 l n đi bán gi p cho L với khối l ng 16,6955 gam MDMA và 01 gói ma t y “n ớc vui (không rõ đ c điểm), thu số tiền 10.500.000 đồng, đ c L trả tiền công là 1.000.000 đồng. Phạm Văn H còn c t gi u 38,7788 gam Ketamine và 18,8618 gam MDMA thì bị Cơ quan Công an phát hiện, thu giữ. Do đó, bị cáo Phạm Văn H phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi mua bán trái phép ch t ma tuý với t ng khối l ng là 38,7788 gam Ketamine và 35,5573 gam MDMA.
Đối với Nguyễn Văn Giàu C1 hành vi mua của Ngô Thị Gia L 30 viên thuốc l c, có khối l ng 16,6955 gam MDMA. Sau đó, G bán lại cho D1 (không rõ lai lịch) 12 viên thuốc l c, khối l ng 6,678 gam MDMA với số tiền 3.600.000 đồng, thu l i 600.000 đồng. Ngoài ra, G còn giới thiệu để L bán cho Lê Thành N1 01 gói ma t y “n ớc vui (không rõ đ c điểm), thu l i 00.000 đồng. Nguyễn Văn G còn c t gi u 10,0175 gam MDMA thì bị Cơ quan Công an phát hiện b t quả tang. Do đó, bị cáo Nguyễn Văn G phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi mua bán trái phép ch t ma tuý với t ng khối l ng là 16,6955 gam MDMA.
Nh vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định truy tố các bị cáo Ngô Thị Gia L, Phạm Văn H về tội “Mua bán trái phép ch t ma t y theo quy định tại điểm h khoản 3 Điều 251 của Bộ luật Hình sự và bị cáo Nguyễn Văn G về tội “Mua bán trái phép ch t ma t y theo quy định tại điểm i khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự là có căn c , đ ng ng i, đ ng tội, đ ng pháp luật.
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hộị đã xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của nhà n ớc về ch t ma t y, gây m t an ninh trật tự tại địa ph ơng. Các bị cáo Ngô Thị Gia L, Phạm Văn H phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi mua bán trái phép ch t ma tuý với t ng khối l ng là 38,7788 gam Ketamine và 35,5573 gam MDMA. Bị cáo Nguyễn Văn G phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi mua bán trái phép ch t ma tuý với t ng khối l ng là 16,6955 gam MDMA. Nên c n xử phạt các bị cáo m c hình phạt thật nghiêm kh c, cách ly các bị cáo ra ngoài xã hội một th i gian dài t ơng x ng với tính ch t, m c độ hành vi phạm tội mà các bị cáo gây ra mới đủ tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ng a chung.
[ ] Về các tình tiết tăng n ng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của t ng bị cáo:
[ .1] Về tình tiết tăng n ng trách nhiệm hình sự.
Bị cáo Ngô Thị Gia L có 01 Tiền án: Ngày 08/01/202 bị Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định xử phạt 1 năm tù về tội “Mua bán trái phép ch t ma t y . Bị cáo ch a ch p hành hình phạt, nh ng tiếp tục phạm tội thuộc tr ng h p Tái phạm nguy hiểm (Bị cáo ch a ch p hành hình phạt về tội đ c biệt nghiêm trọng do cố ý mà lại phạm tội đ c biệt nghiêm trọng) đ c quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự; các bị cáo L, H mua bán trái phép ch t ma tuý nhiều l n đ c quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[ .2] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên đ c h ởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Riêng đối với Ngô Thị Gia L, vào th i điểm thực hiện hành vi phạm tội cuối tháng /202 , L mua 01 gói “n ớc vui với giá 2.000.000 đồng và 16 viên kẹo, màu xám với giá 200.000 đồng/viên: T ng cộng 5.200.000 đồng của một ng i thanh niên (không rõ lai lịch) ở thành phố Hồ Chí Minh, L giao cho H c t gi u, mục đích khi có khách hỏi mua thì H đi bán. L c này bị cáo L đang mang thai nên đ c h ởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Ng i phạm tội là phụ nữ có thai quy định tại điểm n khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Gia đình bị cáo H nộp 600.000 đồng tiền thu l i b t chính và gia đình có công cách mạng; bị cáo G là quân nhân xu t ngũ, nên áp dụng khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho bị cáo H và bị cáo G.
Về vật ch ng vụ án: Căn c Điểu 7 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy:
- 01 (một) bì th dán kín niêm phong 03 d u tròn của “Phòng K - Công an tỉnh B , có chữ ký của Nguyễn Thành T1, Lê Tu n T2, Tr n Chí T3 (Mỗi ng i 01 chữ ký), bên ngoài bì th ghi: H3 lại đối t ng giám định: Vỏ, bao bì đựng mẫu vật; 0,7879 gam mẫu A1; 0,5177 gam mẫu A2; 36,6619 gam mẫu A3; 10,0551 gam mẫu A ; 5,3269 gam mẫu A5 và 8,3 85 gam mẫu A6 còn lại sau giám định.
- 01 (một) cân điện tử màu đen, đã qua sử dụng.
- 20 (hai m ơi) gói nilon trống.
Tịch thu sung vào ngân sách nhà n ớc:
- 01(một) xe mô tô Honda Wave, g n biển số: 77H5-5105, đã qua sử dụng.
- 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone, g n sim số 0765820102, m t kính phía tr ớc có tình trạng bị n t vỡ, đã qua sử dụng.
- 01(một) điện thoại di động iphone XS, màu vàng đồng, số máy: MT992LL/A, số sê ri: C39XG5N0KPFW, số imei : 3572070932726 9, có eSim 0777888910, đã qua sử dụng.
- 01 (một) điện thoại di động iphone 6S, màu xám, số máy: MKRY2LL/A, số sê ri: DNQQQCE8GRY9, số imei : 355 2 077539131, đã qua sử dụng.
- 01 (một) điện thoại di động màu đen, m t l ng có dòng chữ NOKIA, g n sim 0568236323, đã qua sử dụng.
(Theo biên bản giao nhận vật ch ng ngày 27/02/2025 giữa Cơ quan điều tra Công an tỉnh B và Cục thi hành án dân sự tỉnh Bình Định)
Tịch thu vào ngân sách nhà n ớc số tiền thu l i b t chính:
Bị cáo L thu l i 2 l n 2.500.000 đồng, chia cho bị cáo H 1.000.000 đồng và bị cáo G 00.000 đồng, còn lại 1.100.000 đồng thu vào ngân sách nhà n ớc.
Bị cáo H thu l i 1.000.000 đồng, đã nộp tại Cục thi hành án dân sự 600.000 đồng, còn lại phải nộp 00.000 đồng.
Bị cáo G thu l i 1.000.000 đồng, nên thu vào ngân sách nhà n ớc.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo L, H và G, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 Ủy ban Th ng vụ Quốc hội.
Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định là phù h p với nhận định của Hội đồng xét xử, nên đ c ch p nhận đối với các bị cáo H và G; ch p nhận một ph n đối với bị cáo L.
Luật s bào chữa cho các bị cáo :
Đề nghị của ông Nguyễn Văn L3 - Luật s bảo vệ cho bị cáo Ngô Thị Gia L là phù h p với nhận định của Hội đồng xét xử, nên đ c ch p nhận.
Đề nghị của ông Lê Đình P - Luật s bảo vệ cho bị cáo Phạm Văn H là phù h p với nhận định của Hội đồng xét xử , nên đ c ch p nhận.
Các v n đề khác;
Trong vụ án này còn có ng i thanh niên không rõ họ, tên, địa chỉ đã có hành vi bán trái phép ch t ma t y cho Ngô Thị Gia L. Cơ quan điều tra không có tài liệu và căn c để tiến hành xác minh, làm rõ lai lịch của đối t ng trên để khởi tố chung trong cùng vụ án.
Đối với Bùi Xuân P1 có hành vi thuê ô tô chở L, H t thành phố Hồ Chí Minh đến thành phố Q rồi tìm nhà thuê trọ và tìm mua xe máy cũ cho H nh ng không biết việc L, H mua bán ma túy nên Bùi Xuân P1 không phạm tội.
Đối với Lê Thành N1 có hành vi mua 01 gói ma t y “n ớc vui về sử dụng một mình hết, nên Lê Thành N1 không phạm tội.
Đối với Lê Văn L có hành vi bán xe mô tô g n biển số: 77H5-5105 cho Ngô Thị Gia L nh ng không biết việc L, H sử dụng xe mô tô này làm ph ơng tiện để đi bán ma t y nên L4 không phạm tội.
Đối với ng i tên D1 có hành vi mua 12 viên thuốc l c của Nguyễn Văn G, nh ng G không biết rõ lai lịch nên Cơ quan điều tra không có cơ sở để xác minh làm rõ.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn c vào điểm h khoản 3 Điều 251; điểm s, n khoản 1 Điều 51; điểm h, g khoản 1 Điều 52; Điều 56 của Bộ luật Hình sự. Áp dụng cho bị cáo Ngô Thị Gia L.
Căn c điểm h khoản 3 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Áp dụng cho bị cáo Phạm Minh H .
Căn c điểm i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Áp dụng cho bị cáo Nguyễn Văn G.
Căn c vào Điều 7 của Bộ luật Hình sự ; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Căn c vào khoản 2 Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự ; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH1 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Th ng vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Ngô Thị Gia L, Phạm Văn H và Nguyễn Văn G phạm tội “Mua bán trái phép ch t ma t y .
2. Về hình phạt:
2.1. Xử phạt bị cáo Ngô Thị Gia L 15 (m i lăm) năm tù. T ng h p hình phạt 1 năm tù về tội “ Mua bán trái phép ch t ma t y của bản án hình sự sơ thẩm số: 01/202 /HS-ST ngày 08/01/202 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định. Bị cáo phải ch p hành hình chung 02 bản án là 29 (hai m ơi chín) năm tù. Th i hạn ch p hành hình phạt tù tính t ngày b t đi thi hành án. (Đ c tr th i gian tạm giam t ngày 21/10/2023 đến ngày 0 /11/2023 của bản án số 01/202 /HS-ST ngày 08/01/202 cuả Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định).
2.2. Xử phạt bị cáo Phạm Văn H 15 (m i lăm) năm tù. Th i hạn ch p hành hình phạt tù tính t ngày b t tạm giữ, tạm giam ngày 17/6/202 .
2.3. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn G 07 (bảy) năm tù. Th i hạn ch p hành hình phạt tù tính t ngày b t tạm giữ, tạm giam ngày 17/6/202 .
3. Về xử lý vật ch ng:
3.1. Tịch thu tiêu hủy:
- 01 (một) bì th dán kín niêm phong 03 d u tròn của “Phòng K - Công an tỉnh B , có chữ ký của Nguyễn Thành T1, Lê Tu n T2, Tr n Chí T3 (Mỗi ng i 01 chữ ký), bên ngoài bì th ghi: H3 lại đối t ng giám định: Vỏ, bao bì đựng mẫu vật; 0,7879 gam mẫu A1; 0,5177 gam mẫu A2; 36,6619 gam mẫu A3; 10,0551 gam mẫu A ; 5,3269 gam mẫu A5 và 8,3 85 gam mẫu A6 còn lại sau giám định.
- 01 (một) cân điện tử màu đen, đã qua sử dụng.
- 20 (hai m ơi) gói nilon trống.
3.2. Tịch sung công quỹ nhà n ớc:
- 01 (một) xe mô tô g n biển số: 77H5-5105, kiểu dáng Wave, màu sơn đỏ, ở lốc máy hai bên có dòng chữ HONOR , hai bên thân xe có dòng chữ Wave 110 , số máy: VKV1P52FMH-R 08890, số khung: VKVDCH075UM 08890, đã qua sử dụng.
- 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone, g n sim số 0765820102, m t kính phía tr ớc có tình trạng bị n t vỡ, đã qua sử dụng.
- 01 (một) điện thoại di động iphone XS, màu vàng đồng, số máy: MT992LL/A, số sê ri: C39XG5N0KPFW, số imei: 3572070932726 9, có eSim 0777888910, đã qua sử dụng.
- 01 (một) điện thoại di động iphone 6S, màu xám, số máy: MKRY2LL/A, số sê ri: DNQQQCE8GRY9, số imei: 355 2 077539131, đã qua sử dụng.
- 01 (một) điện thoại di động màu đen, m t l ng có dòng chữ NOKIA, g n sim 0568236323, đã qua sử dụng.
(Theo biên bản giao nhận vật ch ng ngày 27/02/2025 giữa Cơ quan điều tra Công an tỉnh B và Cục thi hành án dân sự tỉnh Bình Định)
3.3 Tịch thu vào ngân sách nhà n ớc số tiền thu l i b t chính:
- Bị cáo Ngô Thị Gia L phải nộp vào ngân sách nhà n ớc 1.100.000 (Một triệu một trăm nghìn) đồng.
- Bị cáo Phạm Văn H phải nộp vào ngân sách nhà n ớc 00.000 (Bốn trăm nghìn) đồng (ngoài khoản tiền bị cáo đã nộp tr ớc).
Tạm giữ số tiền 600.000 (Sáu trăm nghìn) đồng gia đình bị cáo H đã nộp theo biên lai thu tiền số 0001783 ngày 2 /3/2025 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Bình Định, thu nộp vào ngân sách nhà n ớc.
- Bị cáo Nguyễn Văn G phải nộp vào ngân sách nhà n ớc 1.000.000 (Một triệu) đồng.
. Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo Ngô Thị Gia L, Phạm Văn H và Nguyễn Văn G, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng.
5. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo trong th i hạn 15 ngày kể t ngày tuyên án. Những ng i có quyền l i, ngh a vụ liên quan v ng m t có quyền kháng cáo trong th i hạn 15 ngày kể t ngày nhận bản án ho c bản án đ c niêm yết theo quy định của pháp luật. Nơi nh n:
| - Vụ GĐKT.1 TANDTC; - VKSNDCC tại Đà Nẵng; - VKSND tỉnh Bình Định; - Trại tạm giam CA tỉnh Bình Định; - Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Bình Định; - Cơ quan THAHS Công an tỉnh Bình Định; - Cơ quan HSNV Công an tỉnh Bình Định; - Phòng TT, KT và THA TAND tỉnh Bình Định; - Cục THADS tỉnh Bình Định; - Những ng i tham gia tố tụng; - L u HS, HCTP, Tòa HS | TM. HỘI Đ NG X T X S TH M Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Thái Văn Hà |