- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Thị T - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Bùi Thị T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 23/2025/HS-ST Ngày: 11-9-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Diệu Linh
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Thùy Liễu, ông Phạm Văn Thắng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Anh - Thư ký Tòa án nhân khu vực 8 - Hải Phòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Đức - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 8 - Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 19/2025/TLST-HS ngày 26 tháng 8 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 27/2025/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 8 năm 2025 đối với bị cáo:
Bùi Thị T, sinh ngày 02 tháng 02 năm 1964 tại Hải Dương nay là Hải Phòng.
Đăng ký hộ khẩu thường trú và trú tại thôn T1, xã A1, thành phố H1, tỉnh Hải Dương nay là tổ dân phố T1, phường T2, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn Kiều và bà Phạm Thị Oanh (đều đã chết); có chồng và 03 con (con lớn sinh năm 1984, con nhỏ sinh năm 1990); tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt tại phiên tòa).
* Bị hại: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1971 (đã chết).
Người đại diện theo pháp luật của bị hại: Bà Bùi Thị T3, sinh năm 1976; anh Nguyễn Văn H2, sinh năm 1997; chị Nguyễn Thị Nhật L, sinh năm 1999; cháu Nguyễn Thảo M, sinh năm 2010; cháu Nguyễn Tuấn M1, sinh năm 2012 (vợ và các con của bị hại).
Người đại diện theo pháp luật của các cháu Nguyễn Thảo M, Nguyễn Tuấn M1: Bà Bùi Thị T3, sinh năm 1976.
Đều thường trú và trú tại thôn T1, xã A1, thành phố H1, tỉnh Hải Dương nay là tổ dân phố T1, phường T2, thành phố Hải Phòng.
Người được bà Bùi Thị T3, anh Nguyễn Văn H2 ủy quyền: Chị Nguyễn Thị Nhật L, sinh năm 1999. Nơi thường trú và trú tại thôn T1, xã A1, thành phố H1, tỉnh Hải Dương nay là tổ dân phố T1, phường T2, thành phố Hải Phòng (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 14 giờ 00 phút ngày 26/4/2025, Bùi Thị T điều khiển xe máy điện biển số 34MĐ1- 382.57 nhãn hiệu ESPERO (số loại 133H2) đi từ nhà ở thôn T1, xã A1 thành phố Hải Dương (nay là tổ dân phố T1, phường Thành Đông, thành phố Hải Phòng) để mua thuốc. Khoảng 16 giờ, T điều khiển xe máy điện trên đường tỉnh lộ 390 hướng đường Quốc lộ 5 đi Bến Hàn để về nhà. Khi T đi đến đoạn km 11+900 đường tỉnh lộ 390, tại đây mặt đường trải nhựa áp phan tương đối bằng phẳng rộng 6,8 mét được chia thành 02 chiều đường bằng vạch sơn màu trắng nét đứt, chiều Bến Hàn đi đường Quốc lộ 5 rộng 2,9 mét, chiều đường Quốc lộ 5 đi Bến Hàn rộng 3,9 mét, bên phải chiều đường T đang đi là lối mở đi vào thôn T1 rộng 18,90 mét. T điều khiển xe vận tốc khoảng 20km/giờ, phía trước cùng chiều cách xe T khoảng 50 -70m có 01 xe ô tô tải (dạng xe bồn bê tông không rõ biển số, người điều khiển) đang lưu thông. Thấy xe ô tô trên đi chậm lại bên mép phải vào khu vực lối mở, T điều khiển xe máy điện đi sang chiều đường ngược lại để vượt qua xe ô tô tải. Do vượt xe không đảm bảo an toàn, T không nhìn thấy xe mô tô do ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1971, nhà ở thôn T1, xã A1, thành phố Hải Dương đang điều khiển ngược chiều (hướng Bến Hàn đi Quốc lộ 5), nên khi xe máy điện do T điều khiển đi sang chiều đường của xe mô tô do ông H điều khiển thì phần đầu bên trái xe máy điện do T điều khiển va chạm vào phần đầu bên phải của xe mô tô do ông H điều khiển làm xe máy điện và T, xe mô tô và ông H đổ ngã ra mặt đường để lại vết cày xước kích thước (0,65x0,01) mét, xe máy điện biển số 34MĐ1-382.57 đổ nghiêng sang phải, xe mô tô biển số 34F8-4463 đổ nghiêng sang trái trên mặt đường, ông H ngã nằm bất tỉnh trên mặt đường. Hậu quả: ông H bị chấn thương sọ não (Tụ máu dưới màng cứng, dập não, chảy máu màng mềm, phù não, vỡ xương thái dương phải, xương đá, cánh lớn xương bướm phải) phải đi cấp cứu và điều trị tại bệnh viện Đa khoa Hải Dương từ ngày 26/4/2025 đến ngày 10/5/2025 ông H tử vong tại nhà riêng. T bị thương ở khuỷu tai trái điều trị tại bệnh viện Đa khoa Hải Dương đến ngày 05/5/2025 được ra viện.
Tại Kết luận giám định tử thi qua hồ sơ số 06/KLTTHS ngày 06/6/2025 của Trung tâm pháp y Sở y tế tỉnh Hải Dương đối với ông Nguyễn Văn H kết luận:
Các kết quả chính: Sau khi bị thương bệnh nhân hôn mê, Glasgow 10 điểm. Vết thương thái dương, đỉnh kích thước 5cm. Chấn thương sọ não gây tụ máu dưới màng cứng, dập não, chảy máu dưới nhện, vỡ xương thái dương phải. Chụp CT sọ não: Tụ máu dưới màng cứng bán cầu đại não trái dày nhất 8mm, đè đẩy đường giữa lệch sang phải 12mm, gây thoát vị dưới liềm não và thoát vị thái dương trong. Chảy máu khoang dưới nhện các rãnh cuộn não rải rác hai bên. Rãnh bên và các rãnh cuộn não hai bên bị xoá - phù não. Hệ thống não thất mất cân đối. Xẹp não thất bên trái, giãn não thất bên phải. Cấu trúc đường giữa di lệch. Hình ảnh vỡ phần đá xương thái dương bên phải, đường vỡ lan vào ống tai, cánh lớn xương bướm, thành xoang sàng, xoang bướm và lan lên xương đỉnh phải. Được điều trị, hồi sức tích cực, bệnh diễn biến ngày càng nặng, gia đình xin về và tử vong tại nhà.
Kết luận: Nguyên nhân chết do chấn thương sọ não (Tụ máu dưới màng cứng, dập não, chảy máu màng mềm, phù não, vỡ xương thái dương phải, xương đá, cánh lớn xương bướm phải), được hồi sức, điều trị tích cực, không hồi phục.
Khám nghiệm xe mô tô biển số 34F3-4463, xác định:
- Tại mặt ngoài bánh trước bên phải có vết va chạm cong bẹp kim loại theo chiều mặt lăn vào tâm trục, điểm tập trung trong diện (05x02) cm, điểm gần nhất cách xuôi theo chiều kim đồng hồ 03cm là chân van của xe, tại khu vực này có 05 chân đũa tuột khỏi vị trí ban đầu; 02 càng bánh trước tuột gãy khỏi vị trí ban đầu; Tại mặt ngoài bên phải giỏ đựng hàng phía trước có vết cong gập kim loại theo hướng từ trước về sau, từ phải qua trái, điểm tập trung trong diện (22x20)cm, điểm thấp nhất cách đất 60cm, điểm cao nhất cách đất 80cm; Ốp nhựa phía trước cổ xe, cụm đèn pha vỡ hỏng hoàn toàn; Cần phanh bên phải bị đẩy cong gập theo chiều từ trước về sau, lệch so với vị trí ban đầu 10cm; Đầu tay nắm ghi đông bên phải có vết mài xước cao su diện (03x02)cm; Kỹ thuật an toàn phương tiện: được lắp đủ, có hiệu lực.
Khám nghiệm xe máy điện biển số 34MĐ1-382.57, xác định: Tại mặt trước bên trái chắn bùn bánh trước xe có vết va chạm trượt xước sơn màu đen, chiều từ phải qua trái, từ trước về sau, điểm tập trung trong diện (10x03)cm, điểm thấp nhất cách mặt đất 43cm, cao nhất 46cm. Tại mặt trước đầu ốc bắt giữ trục bánh trước bên trái có vết va chạm trượt xước kim loại, chiều hướng từ trước về sau, điểm tập trung trong diện (1,5x01) cm, điểm thấp nhất cách đất 21,5cm, điểm cao nhất cách đất 22,5 cm. Tại mặt ngoài càng bánh trước bên trái có vết va chạm trượt xước lớp sơn màu đen, vết có chiều từ trước về sau, điểm tập trung trong diện (11x2,5)cm, điểm thấp nhất cách mặt đất 19cm, điểm cao nhất cách mặt đất 29cm. Tại mặt trước ốp nhựa sàn để chân người điều khiển bên trái có vết va chạm vỡ mất mảnh nhựa, điểm tập trung trong diện (12x7,5)cm, điểm thấp nhất cách đất 23cm, điểm cao nhất cách mặt đất 32cm, ốp nhựa bị gãy chân bắt giữ, bị hở khớp nối. Tại mặt ngoài khung xe phía trước bên trái có vết trượt xước lớp sơn màu đen, chiều hướng từ trước về sau, tại mặt vết còn dính bột sơn màu ghi và bột tạp chất màu đen dạng cao su, có diện (22x3)cm, điểm thấp nhất cách mặt đất 41cm, cao nhất cách mặt đất 54cm. Tại mặt sau đầu tay nắm ghi - đông bên phải có vết mài rách cao su, tại mặt vết còn dính bột đá đường tự nhiên, diện (3x2)cm. Kỹ thuật an toàn phương tiện: được lắp đủ, có hiệu lực.
Cơ quan điều tra đã tiến hành thu giữ 01 tệp video ghi lại diễn biến vụ tai nạn giao thông do anh Nguyễn Văn Dương - Cảnh sát khu vực Công an xã A1 cung cấp và tiến hành trưng cầu giám định hình ảnh. Tại Kết luận giám định 1536 ngày 20/6/2025 của Viện Khoa học hình sự - Bộ Công an xác định: không tìm thấy dấu hiệu cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong tệp video gửi giám định.
Về vật chứng: Ngày 22/5/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Hải Dương đã trả lại xe mô tô biển số 34F8-4463 cho chị Nguyễn Thị Nhật L là đại diện gia đình bị hại, trả xe máy điện cho Bùi Thị T. Chị L đã nhận lại xe và không yêu cầu bị cáo bồi thường.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Bùi Thị T đã bồi thường cho gia đình ông Nguyễn Văn H toàn bộ chi phí điều trị, mai táng, bồi thường tổn thất tinh thần, tiền sửa chữa phương tiện cùng toàn bộ chi phí liên quan tổng số tiền là 150.000.000 đồng. Chị Nguyễn Thị Nhật L đã nhận đủ số tiền trên và có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
Tại Cáo trạng số 15/CT-VKSKV8 ngày 22/8/2025, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Hải Phòng truy tố bị cáo Bùi Thị T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi điều khiển xe máy điện vượt xe không đảm bảo an toàn, hậu quả ông Nguyễn Văn H bị tử vong.
Tại đơn xin xét xử vắng mặt, người đại diện gia đình bị hại chị Nguyễn Thị Nhật L không có yêu cầu nào khác, đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo cải tạo tại địa phương.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị HĐXX: Tuyên bố Bùi Thị T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội: Xử phạt bị cáo Bùi Thị T từ 12 tháng đến 15 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 đến 30 tháng tính từ ngày tuyên án. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường Thành Đông, thành phố Hải Phòng giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Hình phạt bổ sung: Không áp dụng. Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị HĐXX xem xét cho hưởng mức án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi của bị cáo: Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra; phù hợp biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiệm phương tiện, kết luận giám định, lời khai của người đại diện hợp pháp của người bị hại và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 16 giờ 13 phút ngày 26/4/2025, tại km11+900 Tỉnh lộ 390 địa phận thôn T1, xã A1, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương nay là km11+900 Tỉnh lộ 390 địa phận tổ dân phố T1, phường Thành Đông, thành phố Hải Phòng, Bùi Thị T điều khiển xe máy điện biển số 34MĐ1-382.57 vượt xe không đảm bảo an toàn đã để phần đầu bên trái xe máy điện va chạm vào phần đầu bên phải của xe mô tô biển số 34F8-4463 do ông Nguyễn Văn H điều khiển đi ngược chiều. Hậu quả: ông H bị chấn thương sọ não (Tụ máu dưới màng cứng, dập não, chảy máu màng mềm, phù não, vỡ xương thái dương phải, xương đá, cánh lớn xương bướm phải), được cấp cứu và điều trị tại bệnh viện Đa khoa Hải Dương từ ngày 26/4/2025 đến ngày 10/5/2025 ông H tử vong.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trật tự, an toàn công cộng. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự nhưng điều khiển xe máy điện nhãn hiệu ESPERO (số loại 133H2, công suất 700w, vận tốc tối đa 50 km/h là phương tiện không cần giấy phép lái xe) vượt xe không đảm bảo an toàn là vi phạm quy định tại khoản 3 Điều 14 Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ năm 2024 và gây tai nạn làm chết 01 người nên lỗi hoàn toàn thuộc về bị cáo. Do đó, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Hải Phòng truy tố đối với bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng là có căn cứ, đúng pháp luật.
Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và xử lý đối với bị cáo:
Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Sau khi phạm tội, bị cáo đã tự nguyện bồi thường với tổng số tiền 150.000.000đ, có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đại diện bị hại có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự, xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được cải tạo tại địa phương; bị cáo có bố đẻ được tặng Huy chương kháng cH hạng nhất nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xét thấy, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, nhân thân tốt và là người cao tuổi, vì vậy không cần thiết bắt bị cáo phải cách L khỏi xã hội mà áp dụng hình phạt tù cho hưởng án treo cũng đủ tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung, T hiện tính nhân đạo của pháp luật. Hủy bỏ Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú của Tòa án nhân dân khu vực 8 - Hải Phòng đối với bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Xét điều kiện, hoàn cảnh và tính chất phạm tội của bị cáo nên miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Hải Dương đã trả lại 01 xe mô tô biển số 34F8-4463 cho gia đình bị hại, trả xe máy điện cho bị cáo là có căn cứ.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo với gia đình bị hại đã thỏa thuận và bồi thường xong các khoản thiệt hại tổng số tiền là 150.000.000đ. Do người đại diện bị hại không có yêu cầu dân sự nào khác nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
Về án phí: Bị cáo thuộc trường hợp người cao tuổi và có đề nghị được miễn án phí do đó áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng xét xử miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Về tố tụng và các vấn đề khác: Các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan và người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, chuẩn bị xét xử vụ án đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự nên đều hợp pháp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của Quốc hội và Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Bùi Thị T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Bùi Thị T 15 (mười lăm) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 (ba mươi) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 11/9/2025).
Giao bị cáo Bùi Thị T cho Ủy ban nhân dân phường Thành Đông, thành phố Hải Phòng giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có T quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Hủy bỏ Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 05/CCT-TA ngày 26/8/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 8 - Hải Phòng đối với bị cáo Bùi Thị T.
3. Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Bùi Thị T.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người đại diện hợp pháp của bị hại (chị Nguyễn Thị Nhật L) vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
| Nơi nhận: - VKSND khu vực 8 - Hải Phòng; - VKSND TP Hải Phòng; - Cơ quan CSĐT Công an TP Hải Phòng; - Cơ quan THAHS Công an TP Hải Phòng; - Phòng THADS khu vực 8 - Hải Phòng; - Bị cáo; - Người đại diện bị hại; - Lưu hồ sơ vụ án; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Diệu Linh |