vanban.org

Bản án 23/2025/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh và hình phạt

* Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Y Tiến Niê phạm tội “Cố ý gây thương tích”. * Về hình phạt: Căn cứ điểm a khoản 1, điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, BLHS: Xử phạt bị cáo Y T Niê 05 (năm) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam là ngày 08/9/2025… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Y Tiến Niê phạm tội “Cố ý gây thương tích” - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác (điều 104 Bộ luật hì…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 7 – ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 23/2025/HS-ST
Ngày 13/11/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Bà Vũ Thị Hải.

Các hội thẩm nhân dân: Ông Y Nik ÊBan, ông Nguyễn Thế Hằng

- Thư ký phiên toà: Ông Phạm Xuân Quyết - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 7 - Đắk Lắk.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Đắk Lắk tham gia phiên toà: Ông Y Lương Byă - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 11 năm 2025, tại hội trường Tòa án nhân dân khu vực 7 - Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự thụ lý số 23/2025/TLST-HS ngày 10 tháng 10 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25/2025/QĐXXST-HS ngày 30/10/2025 đối với bị cáo:

Y T Niê, sinh ngày 01/01/1992, tại tỉnh Đắk Lắk; Nơi cư trú: Buôn M, xã C, tỉnh Đắk Lắk; Dân tộc: Ê đê; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Trình độ học vấn: 0/12; Nghề nghiệp: Làm nông; Con ông: Y K Mlô (đã chết) và bà: H Tr Niê; Bị cáo có vợ H H Mlô và 02 con, con lớn nhất sinh năm 2015, con nhỏ nhất sinh năm 2016. Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 08/9/2025, hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam số 05 tỉnh Đắk Lắk (Phân trại tạm giam Ea Kar). Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Những người tham gia tố tụng khác:

- Người bào chữa cho bị cáo Y T Niê: Ông Nguyễn Đình Đ –Trợ giúp viên thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Đắk Lắk. Có mặt.

- Người phiên dịch cho bị cáo Y Tiến Niê: Ông Y Y Bkrông. Nơi cư trú: Buôn MC, xã E, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt.

-Bị hại: Ông Y Ng Niê, sinh năm 1987. Nơi cư trú: Buôn Nh , xã M, tỉnh Đắk Lắk (Trước đây là Buôn Nh Ae Tu, xã K, huyện M, tỉnh Đắk Lắk). Có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.

- Người làm chứng:

+ Ông Y M Niê, sinh năm 1982. Nơi cư trú: Buôn G, xã M, tỉnh Đắk Lắk. Có mặt.

+ Ông Y Kh Niê, sinh năm 1969. Nơi cư trú: Buôn Nh, xã M, tỉnh Đắk Lắk. Có mặt.

+ Bà H Th Byă, sinh năm 1977. Nơi cư trú: Buôn Nh, xã M, tỉnh Đắk Lắk (đã chết).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 07 giờ sáng ngày 05/5/2025, Y T Niê và ông Y Kh Niê cùng ngồi uống rượu, bia tại phía sau sân nhà ông Y Kh Niê ở buôn, xã M (trước đây là xã K, huyện M, tỉnh Đắk Lắk), sau đó có ông Y Ng Niê, bà H ThByă và ông Y M Niê đến uống cùng. Trong lúc ăn nhậu, ông Y Ng và Y T xảy ra mâu thuẫn cãi nhau. Ông Y Ng nói Y T đã lấy trộm ổ bi bánh xe công nông của ông Y Ng treo trên xe khi Y T giúp ông Y Ng dắt xe bị té trước đó.

Đến khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày, ông Y M đưa tiền cho bà H Th đi mua bia về uống tiếp, ông Y Kh đi đón con, còn lại Y Ng, Y T và Y M ở lại. Y T nằm ngủ trên võng gần đó, ông Y Ng đi đến dùng tay đánh liên tiếp 2-3 cái vào mặt và đầu của Y T, Y T cũng dùng tay đánh lại 2-3 cái vào người và dùng chân đá vào lưng làm ông Y Ng ngã xuống đất, ông Y M đến can ngăn nên hai người không đánh nhau nữa.

Khoảng 15 phút sau, khi bà H Th đi mua bia về, ông Y Kh cũng vừa chở con đi học về. Y T, ông Y M, ông Y Ng, bà H Th và ông Y Kh tiếp tục ngồi uống bia với nhau. Ông Y Ngoai tìm trong bụi tre bên cạnh giếng nước có một con dao (loại dao mũi quắm, cán gỗ, lưỡi bằng kim loại), ông Y Ng cầm con dao dơ lên chạy về hướng chỗ Y T đang ngồi nói “mày đánh tao, tao chém mày”, Y T liền đứng dậy, tay trái rút ná cao su từ trong túi quần, tay phải nhặt viên đá có kích thước khoảng 1,5x1,5cm trên nền đất rồi đặt vào miếng giữ đạn bắn trúng vào mắt trái của ông Y Ng. Ông Y Ng bị thương, được người nhà đưa đến Trung tâm Y Tế huyện M’Drắk, Bệnh viện đa khoa tỉnh Khánh Hoà và Bệnh viện mắt thành phố Hồ Chí Minh điều trị thương tích.

* Tại Bản kết luận giám định tổn thương trên cơ thể người sống số 403/KLTTCT-PY ngày 20/6/2025 của Trung tâm pháp y tỉnh Đắk Lắk đối với thương tích của ông Y Ngoai Niê tại thời điểm giám định, kết luận: Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của ông Y Ngoai Niê tại thời điểm giám định là 43%. (Vết thương để lại sẹo mi dưới mắt trái, kích thước (4x0,1) cm, tỷ lệ 3%; Tổn thương thực thể mắt trái (võ nhãn cầu mắt trái, gãy xương sàn dưới hốc mắt trái…) gây giảm thị lực mắt trái (sáng tối), thị lực mắt phải 10/10, tỷ lệ 41%). Vật tác động: Vật tày, cứng, có cạnh. Cơ chế hình thành thương tích: Vết thương để lại sẹo mi dưới mắt trái; tổn thương thực thể mắt trái (vỡ nhãn cầu mắt trái) là do tác động trực tiếp của vật tày cứng, có cạnh, hướng từ trước ra sau, từ trái qua phải.

* Tại Bản kết luận giám định số 626/KL-KTHS ngày 19/9/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Lắk, kết luận: 01 ná cao su, nạng ná bằng gỗ hình chữ “Y” do Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Đắk Lắk gửi giám định không có bộ phận cò, do đó không thuộc danh mục vũ khí theo Thông tư số 75/2024/TT-BCA ngày 15/11/2024 của Bộ Công an, không phải là vũ khí.

* Vật chứng tạm giữ: 01 ná cao su gồm các bộ phận tay cầm chữ Y, 02 dây cao su, miếng giữ đạn và 01 con dao (loại dao phát) dài 60cm, cán bằng gỗ bọc dây cao su.

* Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra ông Y Ng Niê yêu cầu bồi thường số tiền 78.000.000 đồng, Y T bồi thường 28.000.000 đồng, còn lại 50.000.000 đồng các bên đã thống nhất thời gian giao sau và không yêu cầu giải quyết. Ông Y Ng Niê đã làm đơn bãi nại, xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho Y T Niê và không yêu cầu gì thêm.

* Tại bản cáo trạng số: 20/CT-VKS ngày 09 tháng 10 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Đắk Lắk truy tố bị cáo Y T Niê về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự (BLHS).

* Tại phiên toà bị cáo thừa nhận hành vi gây thương tích cho ông Y Ng như nội dung cáo trạng đã truy tố. Y T đã bồi thường 28.000.000 đồng cho Y Ngoai, còn lại 50.000.000 đồng đã thỏa thuận bồi thường sau và không yêu cầu HĐXX giải quyết.

* Quá trình điều tra, bị hại ông Y Ng Niê trình bày nội dung vụ việc như nội dung cáo trạng đã truy tố. Nguyên nhân xảy ra vụ việc có một phần lỗi của ông Y Ng. Bị cáo đã bồi thường cho ông Y Ng số tiền 28.000.000 đồng. Bị cáo và ông Y Ng đã thỏa thuận bồi thường thiệt hại, không yêu cầu HĐXX giải quyết. Ông Y Ng làm đơn bãi nại đối với bị cáo.

* Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo Y T Niê phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

- Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 BLHS: Xử phạt bị cáo Y T Niê từ 06 năm đến 06 năm 06 tháng tù.

- Áp dụng Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS:

+ Đối với 01 viên đá bị cáo Y T sử dụng để bắn ông Y Ng Niê gây thương tích, Cơ quan điều tra đã tiến hành truy tìm nhưng không thu giữ được nên không đề cập xử lý.

+ Đối với 01 con dao (loại dao phát) dài 60cm, cán bằng gỗ bọc dây cao su màu đen dài 34cm, lưỡi dao bằng kim loại là tài sản của Y Kh Niê. Ông Y Kh Niê không yêu cầu nhận lại nên cần tịch thu tiêu huỷ.

+ Đối với 01 ná cao su gồm các bộ phận tay cầm chữ Y, 02 dây cao su, miếng giữ đạn. Tay cầm chữ Y bằng gỗ của bị cáo Y T Niê sử dụng vào việc phạm tội, nên cần tịch thu tiêu huỷ.

- Áp dụng Điều 586, 587, 590 Bộ luật dân sự: công nhận việc bị cáo tự nguyện thỏa thuận bồi thường cho bị hại số tiền 28.000.000đồng.

* Người bào chữa cho bị cáo Y T Niê, ông Nguyễn Đình Đ tranh luận: đồng ý đề nghị của Viện kiểm sát về áp dụng pháp luật, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, mức hình phạt mà Viện kiểm sát đề nghị là quá nghiêm khắc. Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho bị hại. Sự việc xảy ra một phần lỗi do người bị hại đã gây sự và đánh bị cáo trước, dùng dao đe dọa bị cáo. Bố mẹ bị cáo đều là người có công với cách mạng. Bị cáo là người đồng bào dân tộc thiểu số, sinh sống trên địa bàn kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn. Bị cáo có nhân thân tốt, lần đầu phạm tội. Vì vậy, đề nghị HĐXX áp dụng điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54 BLHS, áp dụng hình phạt thấp nhất dưới khung hình phạt mà VKS đề nghị đối với bị cáo.

* Bị cáo không có ý kiến tranh luận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan cảnh sát điều tra công an tỉnh Đắk Lắk, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Đắk Lắk trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, hành vi của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về nội dung:

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với những tài liệu, chứng cứ do cơ quan điều tra đã thu thập trong hồ sơ vụ án, nên HĐXX có đủ cơ sở để kết luận:

Khoảng 15 giờ, ngày 05/5/2025, tại phía sau sân nhà Y Kh Niê ở buôn Nhang Ae Tlu, xã M’Drắk (trước đây là xã Krông Jing, huyện M’Drắk, tỉnh Đắk Lắk), trong lúc cùng nhau ăn nhậu đã xảy xích mích, xô xát giữa ông Y Ng và Y T. Mặc dù đã được mọi người can ngăn, nhưng ông Y Ng lại tiếp tục lấy con dao quắm dơ lên chạy về chỗ Y T và nói “mày đánh tao, tao chém mày”. Do đó, Y T dùng ná cao su nhặt viên đá gắn vào và bắn trúng vào mắt trái gây thương tích 43% cho ông Y Ng.

Như vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cầu thành tội Cố ý gây thương tích, theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 BLHS. Vì vậy, quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Đắk Lắk là có căn cứ.

Tại điểm a khoản 1, điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật hình sự quy định:

Điều 134 Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Dùng hung khí nguy hiểm;

…

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

…

c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này”.

Xét tính chất vụ án, mức độ cũng như hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội. Sức khỏe con người là bất khả xâm phạm, mọi hành vi xâm phạm trái pháp luật phải được nghiêm trị. Song với ý thức coi thường pháp luật, xem thường sức khỏe của người khác, bị cáo dùng hung khí nguy hiểm (dùng viên đá gắn vào ná cao su bắn vào người bị hại) gây thương tích cho người khác. Hành vi của bị cáo phải bị trừng trị nghiêm khắc và cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian là cần thiết, có như vậy mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội.

Về tình tiết giảm nhẹ:

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo có bố mẹ đều có công với cách mạng được tặng huân chương kháng chiến hạng nhì. Bị cáo đã tự nguyên xin lỗi bồi thường thiệt hại cho bị hại. Bị hại viết đơn xin bãi nại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Nguyên nhân xảy ra sự việc cũng có một phần lỗi của bị hại đã đánh bị cáo trước và có hành vi dùng hung khí và có lời lẽ đe dọa đối với bị cáo. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 BLHS.

Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại khoản 1 và khoản 2 Điều 51 BLHS. Bị cáo có nhân thân tốt, lần đầu phạm tội. HĐXX cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Biện pháp tư pháp:

+ Đối với 01 con dao (loại dao phát) thu giữ của ông Y Kh Niê là vật chứng trong vụ án. Ông Y Kh Niê không yêu cầu nhận lại nên cần tịch thu tiêu huỷ.

+ Đối với 01 ná cao su gồm các bộ phận tay cầm chữ Y, 02 dây cao su, miếng giữ đạn thu giữ của bị cáo Y T Niê sử dụng vào việc phạm tội, không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu huỷ.

+ Đối với 01 viên đá bị cáo sử dụng để bắn ông Y Ng Niê gây thương tích, Cơ quan điều tra đã tiến hành truy tìm nhưng không thu giữ được nên HĐXX không đề cập xử lý.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã tự nguyện bồi thường số tiền 28.000.000 đồng cho bị hại nên HĐXX cần công nhận. Số tiền còn lại bị cáo và bị hại tự thỏa thuận bồi thường, không yêu cầu HĐXX giải quyết nên không đặt ra xem xét giải quyết.

Về án phí: Bị cáo bị buộc tội phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định. Tuy nhiên, bị cáo là người đồng bào dân tộc thiểu số (Ê đê), sinh sống trên địa bàn kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, có đơn yêu cầu miễn tiền án phí nên được miễn toàn bộ tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh và hình phạt

* Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Y Tiến Niê phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

* Về hình phạt: Căn cứ điểm a khoản 1, điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, BLHS: Xử phạt bị cáo Y T Niê 05 (năm) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam là ngày 08/9/2025.

3. Về biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS: Tịch thu, tiêu hủy 01 con dao (loại dao phát) và 01 ná cao su. Đặc điểm vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng ngày 23/10/2025 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra công an tỉnh Đắk Lắk và Phòng Thi hành án dân sự khu vưc 7 – Đắk Lắk.

4. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội: Miễn toàn bộ tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Y T Niê.

5. Thông báo quyền kháng cáo:

- Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm trong hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

- Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án Hình sự sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ