- Tranh chấp gì? án hình sự — "Huỳnh Duy K cùng đồng phạm bị truy tố tội tàng trử và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Huỳnh Duy K và Trần Trọng H phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - CÀ MAU —————————— | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 23/2025/HS-ST Ngày 26 – 9 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Quốc Trạng
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Ngọc Chi
Bà Nguyễn Kim Kết
- Thư ký phiên toà: Ông Hà Chí Đệ là Thư ký Toà án nhân dân khu vực 4 – Cà Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Hoàng Kim - Kiểm sát viên.
Vào ngày 26 tháng 9 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 4 xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 10/2025/TLST-HS ngày 22 tháng 8 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2025/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 9 năm 2025 đối với các bị cáo:
* Bị cáo thứ nhất: Huỳnh Duy K, sinh năm 2004, tại tỉnh Cà Mau; nơi cư trú: Ấp TV, xã TP, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Quốc D và bà Phan Thị T; vợ, con: không có; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ ngày 10/5/2025, chuyển tạm giam từ ngày 16/5/2025 cho đến nay (có mặt).
* Bị cáo thứ hai: Trần Trọng H, sinh năm 2004 tại tỉnh Cà Mau; nơi cư trú: Ấp TV, xã TP, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn B và bà Đặng Thi D; vợ, con: không có; tiền án: Không; tiền sự: có 01 tiền sự: Ngày 17/01/2024 bị Chủ tịch UBND xã TT xử phạt hành chính số tiền 2.500.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản, đã chấp hành xong. Bị cáo bị tạm giữ ngày 10/5/2025, chuyển tạm giam từ ngày 16/5/2025 cho đến nay (có mặt).
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Trần Trung H, sinh năm 2002; Nơi cư trú: Ấp Thành V, xã Trần P, tỉnh Cà Mau (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 21 giờ 10 phút ngày 10/5/2025, Tổ công tác của Công an thị trấn ĐD làm nhiệm vụ tuần tra đảm bảo an ninh trật tự, khi đến đoạn đường 30/4 thuộc khóm A, xã ĐD, tỉnh Cà Mau, phát hiện Trần Trọng H đang điều khiển xe mô tô, biển kiểm soát 63C1-017.48, chở Huỳnh Duy K có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu dừng phương tiện để kiểm tra. Tuy nhiên, cả hai không chấp hành mà H điều khiển phương tiện rẻ vào đoạn đường đất gần đó nhằm trốn tránh nên lực lượng làm nhiệm vụ đuổi theo và phát hiện K móc từ trong túi quần bên phải 01 bọc nilon màu trắng ném bỏ xuống đường. Khi lực lượng làm nhiệm vụ dừng được phương tiện của H và tiến hành kiểm tra bọc nilon mà Khang ném bỏ thì phát hiện bên trong có chứa nhiều tinh thể màu trắng (nghi là ma túy). Tiếp tục kiểm tra xung quanh thì lực lượng làm nhiệm vụ phát hiện thêm 01 bọc nilon màu đen, cách bọc nilon màu trắng mà K đã ném trước đó khoảng 10m, bên trong có 01 nắp chai nhựa hình tròn màu xanh có gắn 01 đoạn ống hút nhựa và 01 đoạn ống thủy tinh có đầu hình cầu (dụng cụ sử dụng ma túy), bên trong chứa tinh thể màu trắng (nghi là ma túy), nên tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và tạm giữ, niêm phong các vật chứng theo quy định.
Kết quả điều tra xác định: Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 10/5/2025, K điều khiển xe máy chở Hữu đi đến tiệm sửa xe H ở gần cầu Xóm Ruộng thuộc khóm A, thị trấn ĐD, huyện ĐD, tỉnh Cà Mau để H mua phụ tùng xe máy. Trên đường đi, K hỏi H “tối nay có chương trình gì không?”, H hiểu là K rủ sử dụng ma túy nên H nói bản thân H còn tiền. Mua phụ tùng xong H đưa cho K số tiền 230.000 đồng để K mua ma túy. Sau đó, K chở H đến tiệm sửa xe (không nhớ tên) ở gần cầu treo xã Tạ An Khương, khi đến nơi H ở lại sửa xe, còn K điều khiển xe máy quay trở về nhà ở ấp TV, xã TT, huyện ĐD, tỉnh Cà Mau. Tại đây, K gọi điện cho số thuê bao 0918.819.625 hỏi có bán ma túy hay không thì người này trả lời là có, nhưng lúc này K chưa đặt mua.
Đến khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày, K đi xe grab đến kho vật liệu xây dựng BV thuộc ấp TĐ, xã xã ĐD, tỉnh Cà Mau, nơi mà H đang làm thuê. Khi đến nơi, K nằm võng và nói với H “giờ có đồ chơi giữ bãi tới sáng là khỏe”, H hiểu là K rủ sử dụng ma túy nên H trả lời “có tiền đưa rồi đó mua đi”. Nghe vậy, K dùng điện thoại nhá máy cho số thuê bao 0918.819.625 thì số thuê bao này gọi lại thì K đặt mua 200.000 đồng ma túy đá cùng 30.000 đồng bộ dụng cụ sử dụng ma túy; hai bên hẹn đến ngã tư lộ Đông Tây, gần kho vật liệu xây dựng BV, để nhận nhận ma túy. Khoảng 40 phút sau, K đi bộ đến ngã tư lộ Đông Tây thì gặp 02 người thanh niên (chưa xác định được lai lịch, nhân thân) đưa cho K 01 bọc nilon màu đen và K trả số tiền 230.000 đồng.
Sau đó, K quay trở về kho vật liệu xây dựng BV, rồi cùng với H mở bọc nilon màu đen ra xem thấy bên trong có 01 bọc nilon màu trắng chứa ma túy đá, 01 ống thủy tinh có đầu hình cầu và 01 ống hút nhựa; K lấy 01 chai nhựa và lắp ống thủy tinh vào thành bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá. Sau đó, K và H ra trước cổng kho vật liệu xây dựng BV ngồi; K dùng ống hút nhựa lấy một nửa số ma túy từ bọc nilon màu trắng bỏ vào ống thủy tinh, rồi dùng bật lửa hơ nóng ống thủy tinh làm cho chất ma túy tan chảy tạo khói; K và H thay phiên nhau sử dụng mỗi người được khoảng hai đến ba hơi thì nghỉ. Phần ma tuý còn lại ở trong bọc nilon màu trắng thì K lấy bỏ vào túi quần bên phải cất giấu; H lấy ống thuỷ tinh, nắp chai nhựa và ống hút nhựa bỏ vào bọc nilon màu đen cất giấu trong túi áo, với mục đích để cả hai tiếp tục sử dụng cho lần sau; đối với chai nhựa thì cả hai vứt bỏ tại kho.
Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, H điều khiển xe mô tô chở K đi đến bãi vật liệu xây dựng BV ở khóm A, xã ĐD để ngủ giữ bãi; trên đường đi thì cả hai bị bắt quả tang như trên.
Tại Biên bản kiểm tra (test) nhanh nước tiểu phát hiện chất ma tuý do Công an thị trấn ĐD lập ngày 10/5/2025, thể hiện K và H đều dương tính với chất ma tuý.
Tại Bản kết luận giám định số 208/KL-KTHS ngày 13/5/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cà Mau kết luận các tinh thể đã thu giữ được của Huỳnh Duy K và Trần Trọng H như sau: Tinh thể màu trắng bên trong bọc nilon màu trắng được bóp kín miệng, niêm phong trong phong bì hình chữ nhật ký hiệu M1/2025 gửi giám định là ma tuý, có khối lượng 0,1127 gam, loại Methamphetamine. Chất màu trắng bám dính bên trong ống thủy tinh có một đầu hình quả cầu (dạng nỏ hút), niêm phong trong phong bì hình chữ nhật ký hiệu M2/2025 gửi giám định là ma tuý, có khối lượng 0,0146 gam, loại Methamphetamine.
Vật chứng thu giữ gồm: 01 bọc nilon màu trắng được bóp kín miệng, bên trong có chứa tinh thể màu trắng (nghi là ma túy). 01 bọc nilon màu đen. 01 nắp chai nhựa màu xanh. 01 ống hút nhựa. 01 ống thủy tinh có đầu dạng hình cầu, bên trong có chứa tinh thể màu trắng (nghi là ma túy). 01 xe mô tô màu đen, biển kiểm soát 63C1-017.48 của Trần Trung H. 01 điện thoại di động hiệu POCO màu đen của Huỳnh Duy K. 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu trắng của Huỳnh Duy K.
Từ những tình tiết nêu trên, tại bản Cáo trạng số 10/CT-VKS ngày 20 tháng 8 năm 2025 của Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 4 đã truy tố Huỳnh Duy K và Trần Trọng H về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 255 và điểm c khoản 1 Điều 249 của bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
- Các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng truy tố.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Về trách nhiệm hình sự tuyên bố các bị cáo Huỳnh Duy K và Trần Trọng H phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng khoản 1 Điều 255; điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 55 của Bộ luật hình sự đối với các bị cáo K, H. Xử phạt: Các bị cáo K, H mỗi bị cáo từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù về “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy: 01 bọc nilon màu trắng được bóp kín miệng, bên trong có chứa tinh thể màu trắng (nghi là ma túy). 01 bọc nilon màu đen. 01 nắp chai nhựa màu xanh. 01 ống hút nhựa. 01 ống thủy tinh có đầu dạng hình cầu, bên trong có chứa tinh thể màu trắng (nghi là ma túy). Trả lại cho Trần Trung H 01 xe mô tô màu đen, biển kiểm soát 63C1-017.48 và trả cho bị cáo Khang 01 điện thoại di động hiệu POCO màu đen. Tịch thu, sung quỹ Nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu trắng của Huỳnh Duy K. Về án phí hình sự: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Đối với người tên L và hai thanh niên bán ma túy cho K do không xác định được họ tên và địa chỉ cụ thể nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Cà Mau tách ra, tiếp tục điều tra làm rõ là phù hợp. Đối với Nguyễn Ngọc Q là chủ kho vật liệu xây dựng không biết K và H sử dụng trái phép chất ma túy tại kho vật liệu xây dựng BV nên không xem xét xử lý là phù hợp.
Lời nói sau cùng của các bị cáo Huỳnh Duy K và Trần Trọng H: Các bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
Về trách nhiệm hình sự:
Về tội danh: Tại phiên tòa, các bị cáo hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội của các bị cáo như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Cà Mau đã truy tố. Xét thấy: Lời thừa nhận của các bị cáo tại phiên tòa, phù hợp với lời khai của các bị cáo và những người làm chứng trong quá trình điều tra, phù hợp với các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định: Khoảng 20 giờ ngày 10/5/2025 tại kho vật liệu xây dựng BV thuộc ấp TĐ, xã TD, huyện ĐD, tỉnh Cà Mau (nay thuộc ấp TĐ, xã ĐD, tỉnh Cà Mau) các bị cáo K và H cùng nhau tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Đến khoảng 21 giờ 10 phút cùng ngày tại đoạn đường 30/4 khóm A, thị trấn ĐD, huyện ĐD, tỉnh Cà Mau (nay thuộc khóm A, xã ĐD, tỉnh Cà Mau) các bị cáo K và H đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuy với khối lượng 0,1273 gam, loại Methamphetamine với mục đích để sử dụng.
Theo khoản 1 Điều 255 của Bộ luật hình sự quy định: “Người nào tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy dưới bất kỳ hình thức nào, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.”.
Điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự quy định: “Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
...
c)Heroine, Cocaine, Methamphetamine... có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;”
Do đó, Cáo trạng số 10/CT-VKS ngày 20.8.2025 của Viện Kiểm sát nhân khu vực 4 – Cà Mau đã truy tố các bị cáo Huỳnh Duy K và Trần Trọng H về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuy” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 255 và điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xét tính chất, mức độ và hậu quả do hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, thuộc trường hợp nghiêm trọng. Các bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiện hình sự, nhận thức rõ hành vi tổ chức sử dụng chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp, không chấp hành hiệu lệnh dừng xe của người có thẩm quyền. Hành vi của các bị cáo không những trực tiếp đã xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính của các cơ quan nhà nước về các chất gây nghiện, gây ảnh hưởng xấu tới tình hình trật tự trị an ở địa phương mà còn gián tiếp làm phát sinh nhiều tội phạm và các tệ nạn xã hội khác.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, cũng như tại phiên tòa các bị cáo đã có thái độ thành khẩn khai báo. Các bị cáo có người thân có công với cách mạng, cụ thể: Ông Đặng Trọng K là ông ngoại của bị cáo H là thương binh hạng 4/4. Ông Huỳnh Văn M là ông nội của bị cáo K được tặng huy chương kháng chiến hạng nhất. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được áp dụng cho bị cáo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xét vị trí vai trò của các bị cáo trong vụ án: Bị cáo K là người rủ rê và trực tiếp giao dịch mua ma túy, còn bị cáo H là người đưa tiền để mua ma túy, sử dụng địa điểm bị cáo đang trực tiếp quản lý để tổ chức sử dụng ma túy cùng bị cáo K nên mức độ, vai trò của các bị cáo là ngang nhau.
Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm răn đe, cải tạo các bị cáo trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội.
Đối với người tên L và hai thanh niên bán ma túy cho K do không xác định được họ tên và địa chỉ cụ thể nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Cà Mau tách ra, tiếp tục điều tra làm rõ là phù hợp.
Đối với Nguyễn Ngọc Q là chủ kho vật liệu xây dựng không biết K và H sử dụng trái phép chất ma túy tại kho vật liệu xây dựng BV nên không xem xét xử lý là phù hợp.
Về xử lý vật chứng: 01 bọc nilon màu trắng được bóp kín miệng, bên trong có chứa tinh thể màu trắng (nghi là ma túy). 01 bọc nilon màu đen. 01 nắp chai nhựa màu xanh. 01 ống hút nhựa. 01 ống thủy tinh có đầu dạng hình cầu, bên trong có chứa tinh thể màu trắng (nghi là ma túy) là công cụ dùng để sử dụng ma túy nên cần tịch thu tiêu hủy. Anh H không biết bị cáo H sử dụng xe mô tô màu đen, biển kiểm soát 63C1-017.48 của anh để phạm tội nên cần trả lại. 01 điện thoại di động hiệu POCO màu đen của bị cáo K không sử dụng làm phương tiện phạm tội nên cần trả lại. 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu trắng của bị cáo K dùng vào việc phạm tội và còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu, sung quỹ Nhà nước.
Về án phí hình sự: Các Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 255; điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 55 của Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Huỳnh Duy Khang và Trần Trọng Hữu.
1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Huỳnh Duy K và Trần Trọng H phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt:
- Xử phạt bị cáo Huỳnh Duy K 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt của hai tội 04 (bốn) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 10/5/2025.
- Xử phạt bị cáo Trần Trọng H 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt của hai tội 04 (bốn) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 10/5/2025.
3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, b khoản 2; điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy: 01 bọc nilon màu trắng được bóp kín miệng, bên trong có chứa tinh thể màu trắng (nghi là ma túy). 01 bọc nilon màu đen. 01 nắp chai nhựa màu xanh. 01 ống hút nhựa. 01 ống thủy tinh có đầu dạng hình cầu, bên trong có chứa tinh thể màu trắng (nghi là ma túy).
Trả lại cho anh Trần Trung H 01 xe mô tô màu đen, biển kiểm soát 63C1-017.48.
Trả lại cho bị cáo Huỳnh Duy K 01 điện thoại di động hiệu POCO màu đen.
Tịch thu, sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu trắng của Huỳnh Duy K.
(Các vật chứng do Phòng thi hành án dân sự khu vực 4 quản lý)
4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Huỳnh Duy K và Trần Trọng H mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau; - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau; - Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4 – Cà Mau; - Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Cà Mau; - Phòng Thi hành án dân sự khu vực 4 – Cà Mau; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Đặng Quốc Trạng |