- Tranh chấp gì? án hình sự — "BA 23 - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thành C phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ .
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 21 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM THUỶ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH THANH HOÁ Bản án số: 23/2025/HS-ST Ngày 21/5/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM THUỶ, TỈNH THANH HOÁ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Ánh Tuyết
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hữu Thư và bà Trịnh Thị Khanh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Ị V Trang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cẩm Thuỷ, tỉnh Thanh Hoá.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Thuỷ, tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên tòa: Bà Cao Thị Hồng - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 5 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cẩm Thuỷ xét xử sơ thẩm C khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 19/2025/TLST-HS ngày 17 tháng 4 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 26/2025/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 4 năm 2025, đối với bị cáo:
Nguyễn Thành C, sinh ngày 27/01/1994; nơi sinh: Xã D, huyện T, tỉnh Hưng Yên. Nơi cư trú: Bản T, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La; Căn cước C dân số 014094012208; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hoá (học vấn) 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn M, sinh năm 1971 và bà Vũ Thị H, sinh năm 1974 (Đều đã chết). Vợ: Vì Thị Duyên, sinh năm 1997 và có 02 con lớn nhất sinh năm 2019, con nhỏ nhất sinh năm 2022.
Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Chị Quách Thị V, sinh năm 1983 (Đã chết).
Người đại diện của bị hai: Anh Đỗ Trọng Gi, sinh năm 1984; địa chỉ TDP D, thị trấn Ph, huyện C, tỉnh Thanh Hoá; Có mặt.
Người làm chứng: Chị Trịnh Thị Đ– Sinh năm 1983
Anh Trương Văn D– Sinh năm 1971 Đều trú tại: TDP Li, TT Ph, huyện C, tỉnh Thanh Hóa.
Anh Vì Văn H– Sinh năm 1979 Trú tại: Bản X, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La
Chị Nguyễn Lệ Q – Sinh năm 1983
Anh Từ Thanh T – Sinh năm 1988 Đều trú tại: Tiểu khu M, TT H, huyện M, tỉnh Sơn La.
Người làm chứng đều vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 07 giờ 30 phút ngày 28/10/2024, Nguyễn Thành C điều khiển xe ôtô đầu kéo biển số: 26E-002.13 kéo theo sơmi rơmoóc biển số: 26R-001.60 đi một mình di chuyển trên đường Hồ Chí Minh ở phần đường bên p H theo hướng từ Hà Nội đi Nghệ An đến Km525+00 thuộc TDP.Linh Thung, TT.Phong Sơn, huyện Cẩm Thuỷ, tỉnh Thanh Hoá (khu vực giao nhau với đường không ưu tiên từ bên trái) thì gặp xe môtô biển số: 36B5-020.45 do chị Quách Thị V điều khiển đi một mình di chuyển phía trước cùng chiều và cùng phần đường. Lúc này Nguyễn Thành C bật đèn xi nhan trái, đánh lái điều khiển xe ôtô sang trái theo chiều đi, bấm còi và tăng tốc độ để vượt về bên trái xe môtô biển số: 36B5-020.45 của chị Quách Thị V. Tuy nhiên quá trình vượt xe, Nguyễn Thành C điều khiển xe ôtô đi sát với xe môtô và xảy ra va chạm với xe môtô biển số 36B5-020.45 gây ra tai nạn. Sau khi va chạm, chị Quách Thị V cùng chiếc xe môtô ngã xuống đường, bánh xe ôtô do Nguyễn Thành C điều khiển đè qua đầu làm chị Quách Thị V chết tại chỗ, chiếc xe môtô bị hư hỏng, lúc này Nguyễn Thành C đạp phanh và dừng xe lại ở khu vực giữa đường.
Kết quả khám nghiệm hiện trường:
- Hiện trường vụ tai nạn xảy ra tại Km 525+00 đường Hồ Chí Minh thuộc TDP.Linh Thung, TT.Phong Sơn, Cẩm Thuỷ, Thanh Hoá. Nơi xảy ra tai nạn là đoạn đường hơi cong cua, lòng đường trải nhựa rộng 7,0m theo hướng từ Hà Nội đi Nghệ An (hướng Bắc đi Nam) của hiện trường. Đoạn đường có vạch kẻ đường nét đứt ở giữa đường, có đèn đường, có biển báo giao thông giao nhau với đường không ưu tiên, không có đèn tín hiệu giao thông, không có Camera và nằm trong khu đông dân cư. Lề đường phía Đông của hiện trường rộng 0,30m, lề đường phía Tây của hiện trường rộng 0,20m; hai bên lề đường là hệ thống hàng rào chắn bằng kim loại (hộ lan). Lề đường Đông có biển báo giao nhau với đường nhánh bên phải.
- Hiện trường để lại vết tỳ trượt, cà xước mặt đường liên tục có chiều Bắc - Nam, kích thước (5,65 x 0,07)m (đánh số 1). Đầu vết cách điểm mốc về hướng Đông Nam 29,50m, cách mép đường chuẩn 0,20m; cuối vết cách mép đường chuẩn 0,25m.
- Hiện trường để lại hệ thống vết cà xước mặt đường không liên tục có chiều Tây Bắc - Đông Nam, kích thước (5,70 x 0,80)m (đánh số 2). Đầu hệ thống vết cách cuối vết đánh số 1 về hướng Đông Bắc 0,35m, cách mép đường chuẩn 0,50m; cuối hệ thống vết trùng với ốp lốc máy bên trái xe mô tô biển số: 36B5-020.45; tại điểm thứ nhất của hệ thống vết cách mép đường chuẩn 0,45m, tại điểm thứ hai của hệ thống vết cách mép đường chuẩn 1,45m.
- Hiện trường để lại tử thi là Quách Thị V - Sinh năm: 1983 cư trú tại thôn Thanh Tâm, Cẩm Tâm, Cẩm Thuỷ, Thanh Hóa ở tư thế nằm nghiêng sấp trên đường; phần đầu tử thi vỡ nát thoát sọ, não và các bộ phận khác; phần cằm tử thi quay hướng Đông Bắc, chân quay hướng Tây Nam (đánh số 4). Phần cằm tử thi cách tâm bánh sau xe mô tô đánh số 3 về hướng Đông Nam 1,80m, cách mép đường chuẩn 1,90m; gót chân p H tử thi cách mép đường chuẩn 0,60m. Xung quanh đầu tử thi có nhiều máu và tổ chức cơ thể người.
- Hiện trường để lại xe ô tô đầu kéo biển số: 26E-002.13 kéo theo sơmirơmoóc biển số: 26R-001.60 dừng trên đường, đầu quay hướng Đông Nam, đuôi quay hướng Tây Bắc (đánh số 5). Tâm bánh ngoài hàng bánh sau cùng bên p H của sơmirơmoóc cách tâm bánh trước xe mô tô đánh số 3 về hướng Đông Nam 13m, cách mép đường chuẩn 1,70m; tâm bánh trước bên p H của đầu kéo cách mép đường chuẩn 1,70m.
- Hiện trường để lại xe mô tô biển số: 36B5-020.45 đổ nghiêng trái nằm trên đường, đầu quay hướng Nam, đuôi quay hướng Bắc (đánh số 3). Tâm bánh sau cách đầu hệ thống vết đánh số 2 về hướng Nam 5,0m, cách mép đường chuẩn 0,37m; tâm bánh trước cách mép đường chuẩn 0,35m.
Kết quả khám nghiệm tử thi Quách Thị V ngày 28/10/2024:
- Các vết xây xước da, rách da, tụ máu tại vùng: Đầu, mặt, lưng, tay trái;
- Gãy 1/3 dưới xương cánh tay trái;
- Chấn thương sọ não, hàm mặt:
+ Tụ máu tổ chức dưới da, cơ đầu vùng đầu, mặt;
+ Vỡ xương hộp sọ, rách màng cứng;
+ Dập não, thoát não;
+ Gãy xương gò má hai bên, xương hàm trên, xương hàm dưới.
Kết luận giám định tử thi số: 4501/KLGĐTT-PC09 ngày 25/11/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự C an tỉnh Thanh Hóa kết luận: Nguyên nhân chết của Quách Thị V là đa chấn thương.
Tại Kết luận giám định số: 4567/KL-KTHS ngày 29/11/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự C an tỉnh Thanh Hóa kết luận:
+ Điểm va chạm đầu tiên giữa hai phương tiện: Mặt ngoài thanh dưới bảo hiểm bên p H thùng xe cách mặt trước ba-đờ-sốc trước 1170cm xe ô tô đầu kéo biển số: 26E-002.13 kéo theo sơmirơmoóc biển số: 26R-001.60 (ảnh 5, 6) với mặt ngoài thanh bảo hiểm bên trái thân xe (tương ứng vị trí cánh yếm) xe mô tô biển số: 36B5-020.45.
+ Tại thời điểm va chạm xe ô tô đầu kéo biển số: 26E-002.13 kéo theo sơmirơmoóc biển số: 26R-001.60 chuyển động cùng chiều ở bên trái và có vận tốc lớn hơn so với xe mô tô biển số: 36B5-020.45.
+ Vị trí va chạm giữa hai phương tiện nằm trước đầu vết tỳ trượt, cà trượt (1) được thể hiện trong biên bản khám nghiệm hiện trường và sơ đồ hiện trường thuộc chiều đường bên p H hướng từ Hà Nội đi Nghệ An.
+ Không đủ cơ sở xác định tốc độ của hai phương tiện ngay trước khi xảy ra tai nạn.
Về vật chứng:
- 01 (một) chiếc xe ô tô đầu kéo biển số: 26E-002.13; nhãn hiệu: CNHTC; màu sơn: Bạc kéo theo Sơmirơmoóc biển số: 26R-001.60; nhãn hiệu: CIMC; màu sơn: Xanh. Xe cũ đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng xe.
- 01 (một) Chứng nhận đăng ký Rơmoóc, Sơmi rơmoóc số: 26000086 do C an huyện Mai Sơn cấp ngày 21/5/2024 cho Sơmi rơmoóc biển số: 26R-001.60.
- 01 (một) Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ số: EB0549899 do C ty cổ phần kiểm định phương tiện vận tải Sơn La cấp ngày 01/3/2024 cho xe ô tô đầu kéo biển số: 26E-002.13 có hiệu lực đến hết ngày 28/02/2026.
- 01 (một) Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ số: DB2813388 do C ty cổ phần kiểm định phương tiện vận tải Sơn La cấp ngày 16/7/2024 cho Sơmirơmoóc biển số: 26R-001.60 có hiệu lực đến hết ngày 15/7/2025.
- 01 (một) Giấy phép lái xe hạng FC số: 140163005466 do Sở GTVT tỉnh Phú Thọ cấp ngày 15/3/2021 cho Nguyễn Thành C có giá trị đến ngày 15/3/2026.
- 01 (một) chiếc xe mô tô biển số: 36B5-020.45; nhãn hiệu: HONDA VISION; màu sơn: Xanh. Xe cũ, bị hư hỏng do tai nạn giao thông, không kiểm tra chất lượng xe.
- 01 (một) Giấy phép lái xe hạng A1, số 0394932, do Sở giao thông vận tải tỉnh Thanh Hóa cấp ngày 01/02/2005 cho Quách Thị Ị V, sinh năm 1983; Quốc tịch: Việt Nam; Nơi cư trú: Cẩm Tâm, Cẩm Thủy, Thanh Hóa, có giá trị không thời hạn.
Quá trình điều tra xác minh, xác định chủ sở hữu hợp pháp, ngày 17/12/2024, Cơ quan CSĐT C an huyện Cẩm Thủy đã ban hành Quyết định số 1006/QĐ - CSĐT về xử lý vật chứng trả lại tài sản cho chủ sở hữu theo quy định.
Về dân sự: Ngày 03/11/2024, Nguyễn Thành C đã tự nguyện bồi thường cho gia đình chị Quách Thị Ị V tổng số tiền là: 250.000.000đ (Hai trăm năm mươi triệu đồng). Gia đình bị hại đã nhận đủ số tiền và không yêu cầu đề nghị gì thêm.
Tại bản Cáo trạng số 28/CT-VKSCT ngày 16 tháng 4 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Thuỷ đã truy tố bị cáo Nguyễn Thành C về tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự. Khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Khoản 1 điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Đề nghị HĐXX xử phạt bị cáo Nguyễn Thành C từ 18 tháng đến 24 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo; thời gian thử thách từ 36 tháng đến 48 tháng kể từ ngày tuyên án.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã tự nguyện bồi thường về dân sự cho đại diện gia đình bị hại. Gia đình bị hại đã nhận đủ số tiền và không yêu cầu đề nghị gì thêm về dân sự.
Trả lại 01 Giấy phép lái xe hạng FC do Sở giao thông vận tải tỉnh Phú Thọ cấp ngày 15/3/2021 số 140163005466 cho Nguyễn Thành C.
Về án phí: Bị cáo p H chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Cáo trạng đã truy tố. Lời khai người đại diện của bị hại, người làm chứng đều phù hợp với lời khai của bị cáo và nội dung cáo trạng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung cáo trạng, phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án:
Khoảng 07 giờ 30 phút, ngày 28/10/2024 Nguyễn Thành C có giấy phép lái xe hạng FC điều khiển xe ôtô đầu kéo biển số: 26E-002.13 kéo theo sơmi rơmoóc biển số: 26R-001.60 đi một mình di chuyển trên đường Hồ Chí Minh ở phần đường bên p H theo hướng từ Hà Nội đi Nghệ An đến Km525+00 thuộc TDP.Linh Thung, TT.Phong Sơn, huyện Cẩm Thuỷ, tỉnh Thanh Hoá. Do vượt xe không đúng quy định, không chú ý quan sát và giữ khoảng cách an toàn với xe phía trước cùng chiều nên đã va chạm với xe mô tô biển số: 36B5-020.45 do Quách Thị V điều khiển. Hậu quả chị Quách Thị V tử vong tại chỗ, xe mô tô bị hư hỏng. Hành vi của Nguyễn Thành C đã vi phạm Khoản 11, Khoản 23 Điều 8 Luật giao thông đường bộ năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung theo Luật số: 44/2019/QH14 ngày 14/6/2019)
Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận: Hành vi của Nguyễn Thành C đã vi phạm khoản 11, khoản 23 Điều 8 Luật giao thông đường bộ và đã phạm vào tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ tội danh và hình phạt quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 – BLHS như Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Thuỷ truy tố là đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.
. Về tính chất, mức độ nghiêm trọng hành vi của bị cáo nhận thấy:
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm hại đến trật tự trị an, an toàn giao thông đường bộ mà còn xâm phạm đến tính mạng của bị hại. Do đó, việc lên mức hình phạt thật nghiêm khắc đối với bị cáo là cần thiết.
. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa xác định, bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại và đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đại diện của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ và có nơi cư trú rõ ràng, nên chưa cần p H cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội mà giao cho chính quyền địa phương giám sát và giáo dục để bị cáo có cơ hội cải tạo trở thành người tốt.
. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
. Về dân sự: Bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho đại diện gia đình bị hại số tiền 250.000.000đ (Hai trăm năm mươi triệu đồng), gia đình bị hại đã nhận đủ số tiền và không yêu cầu đề nghị gì thêm về dân sự. Nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Trả lại 01 Giấy phép lái xe hạng FC do Sở giao thông vận tải tỉnh Phú Thọ cấp ngày 15/3/2021 số 140163005466 cho Nguyễn Thành C.
. Về án phí: Bị cáo p H chịu án phí HSST theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật TTHS và khoản 1 Điều 21, điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thành C phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ .
Xử phạt: Nguyễn Thành C 18 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 tháng kể từ ngày tuyên án. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã Mường Bon, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La giáo dục trong thời gian thử thách. Giao bị cáo cho C an xã Mường Bon, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La giám sát trong thời gian thử thách.
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo p H chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thành C p H chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Trả lại 01 Giấy phép lái xe hạng FC do Sở giao thông vận tải tỉnh Phú Thọ cấp ngày 15/3/2021 số 140163005466 cho Nguyễn Thành C.
3. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện của bị hại có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ tuyên án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - VKSND huyện Cẩm Thuỷ; - VKSND tỉnh Thanh Hoá; - TAND tỉnh Thanh Hoá; - UBND xã Mường Bon, H. Mai Sơn; - C an xã Mường Bon, H. Mai Sơn; - Bộ phận THA Tòa án; - Bị cáo; - Đại diện của bị hại; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Thị Ánh Tuyết |