vanban.org

Bản án 23/2025/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc Tuyên án 26/03/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thành V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng: điểm i khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - Nguyễn Thành V - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BL…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thành V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VT
TỈNH VP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 23/2025/HS-ST
Ngày 26 tháng 3 năm 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VT, TỈNH VP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Huyền

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Ngọc Triển;

2. Ông Phùng Văn Thông;

-Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Hải Yến – Thư ký Toà án nhân dân huyện VT.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện VT, tỉnh VP tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Hồng Nhung - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 3 năm 2025, tại Hội trường UBND xã VD, Tòa án nhân dân huyện VT, tỉnh VP xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 16/2025/TLST-HS ngày 07 tháng 3 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2025/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:

Nguyễn Thành V (tên gọi khác: không), sinh ngày 24/10/2004 tại xã VD, huyện VT, tỉnh VP; nơi cư trú: thôn VD, xã VD, huyện VT, tỉnh VP; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: Lớp 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Tuấn Đ, sinh năm 1980 và bà Đặng Thị Thanh N, sinh năm 1983; vợ con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: không;

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 12/12/2024 đến ngày 18/12/2024 chuyển tạm giam. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh VP, có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

+ Anh Hoàng Văn T, sinh năm 1996. Nơi cứ trú: TDP YC, thị trấn VT, huyện VT, tỉnh VP, vắng mặt;

+ Chị Phùng Thị Thanh T, sinh năm 2006. Nơi cư trú: TDP YC, thị trấn VT, huyện VT, tỉnh VP, vắng mặt;

- Người làm chứng: ông Lê Văn C, sinh năm 1986; nơi cư trú: TDP NC, thị trấn TT, huyện VT, tỉnh VP, vắng mặt;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung

vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ 05 phút ngày 12/12/2024, tại khu vực cổng làng thôn VD, xã VD, huyện VT, tỉnh VP, tổ công tác của Công an huyện VT làm nhiệm vụ phát hiện bắt quả tang Nguyễn Thành V - sinh năm 2004, trú tại: Thôn VD, xã VD, huyện VT, tỉnh VP có hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Tang vật thu giữ, tạm giữ:

- Thu bên trong gói giấy loại phong bì thư V đang cầm ở tay trái 01 túi nilon không màu, miệng túi có mép vuốt và đường kẻ chỉ màu đỏ bên trong chứa các hạt tinh thể màu trắng, tang vật được niêm phong trong 01 phong bì thư theo đúng thủ tục pháp luật, ký hiệu A1; 01 túi nilon không màu, miệng túi có mép vuốt và đường kẻ chỉ màu đỏ bên trong chứa 02 viên nén có đặc điểm giống nhau đều dạng hình hộp chữ nhật, màu xám, một mặt in chìm chữ “R”, mặt còn lại in chìm đường kẻ ngang. Tang vật được niêm phong trong 01 phong bì thư theo đúng thủ tục pháp luật, ký hiệu A2.

- Thu trong túi quần bên trái phía trước V đang mặc 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple loại iPhone XS Max màu trắng đã cũ, bên trong lắp sim thuê bao số 0325.651.502, số IMEI: 357272094416157 và IMEI2: 357272094616293 (mật khẩu mở khóa màn hình là 241004).

Ngày 12/12/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện VT ra quyết định Trưng cầu giám định số 2599/QĐ-ĐCHSKTMT trưng cầu Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh VP tiến hành giám định, xác định mẫu vật ký hiệu A1, A2 gửi giám định có phải là chất ma túy, tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy không, loại chất ma túy, tiền chất gì? khối lượng của mẫu gửi giám định là bao nhiêu?.

Ngày 16/12/2024, Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh VP có bản kết luận giám định số 3482/KLGĐ, xác định:

Tinh thể màu trắng của mẫu ký hiệu A1 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,6992g (không phảy sáu chín chín hai gam, không kể bao bì) loại Ketamine.

02 (hai) viên nén đều có màu xám hình chữ nhật của mẫu ký hiệu A2 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,8923g (không phảy tám chín hai ba gam, không kể bao bì) loại MDMA.

Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh VP hoàn trả trực tiếp đối tượng còn lại sau giám định cho cơ quan trưng cầu gồm: Mẫu A1 = 0,4725g, mẫu A2 = 0,4241g cùng bao gói được niêm phong chung trong phong bì giấy theo đúng quy định của pháp luật, trên giáp lai niêm phong có chữ ký của người tham gia đóng gói, niêm phong và hình dấu của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh VP.

Cơ quan điều tra đã thông báo nội dung kết luận giám định nêu trên cho V biết. V đồng ý với nội dung kết luận giám định và không có ý kiến gì.

Về nguồn gốc số ma túy V khai nhận: Khoảng 11 giờ 00 phút ngày 12/12/2024, khi đang ở nhà tại thôn VD, xã VD, huyện VT, tỉnh VP thì V nảy sinh nhu cầu muốn sử dụng ma túy kẹo và ma túy ketamine. Do biết Hoàng Văn T, sinh năm 1996, trú tại: tổ dân phố YC, thị trấn VT, huyện VT, tỉnh VP bán ma túy kẹo, ma túy ketamine nên V đã sử dụng tài khoản Messenger mang tên “V Đocle (V Đôn)” được cài đặt trên chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Apple loại iPhone XS Max màu trắng đã cũ, bên trong lắp sim thuê bao số 0325.651.502 gọi cho T qua tài khoản Messenger mang tên “Phùng Thanh T” của chị Phùng Thị Thanh T – sinh năm 2006 (vợ của T). Qua điện thoại, V bảo T: “Lấy cho em một chỉ hai viên”, T hiểu ý V muốn mua 01 chỉ ma túy ketamine và 02 viên ma túy kẹo nên đồng ý và nói lại “Tổng là hai triệu nhé” và T bảo V chuyển tiền mua ma túy cho T. Sau đó T nhắn tin qua mesenger tài khoản số 4251977325 mang tên TRUONG THI HONG THUY được mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam cho V, rồi bảo V chuyển tiền xong thì đi ra khu vực Vực Xanh thuộc tổ dân phố YC, thị trấn VT, huyện VT, tỉnh VP để nhận ma túy. Sau đó V sử dụng tài khoản ngân hàng số 68241020046789 mở tại Ngân hàng TMCP Quân đội của mình chuyển số tiền 2.000.000đ đến số tài khoản 4251977325 mang tên TRUONG THI HONG THUY mà T đã nhắn cho V trước đó. Sau đó, V đi bộ ra trục đường Quốc lộ 2C ở gần nhà rồi đi nhờ xe máy của một người đàn ông không quen biết đến khu vực Vực Xanh thuộc tổ dân phố YC, thị trấn VT, huyện VT, tỉnh VP để nhận ma túy. Đến nơi V sử dụng tài khoản Messenger mang tên “V Đocle (V Đôn)” gọi cho T qua tài khoản Messenger mang tên “Phùng Thanh T”, thì T nói cho V biết vị trí cất giấu ma túy là ở tại cây cột điện gần nhà T. V đi theo chỉ dẫn của T đến cây cột điện nêu trên thì thấy có 01 gói giấy loại phong bì thư, bên trong chứa 01 túi ma túy ketamine và 01 túi nilon không màu chứa 02 viên ma túy kẹo, V hiểu đó là số ma túy T bán cho V. Sau đó, V cất số ma túy nêu trên vào trong túi áo khoác bên trái đang mặc rồi đi nhờ xe máy của 01 người đàn ông không quen biết để về nhà. Khi đến cổng làng thôn VD, xã VD V xuống xe rồi đi bộ về nhà nghỉ ngơi, ăn cơm. Đến khoảng 12 giờ 15 phút cùng ngày, V cầm số ma túy vừa mua được của T đi bộ từ nhà ra cổng làng thôn VD, xã VD để tìm nơi sử dụng ma túy thì bị lực lượng Công an huyện VT phát hiện bắt quả tang V có hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy đồng thời thu giữ các vật chứng có liên quan.

Tại Cáo trạng số: 26/CT-VKS ngày 06 tháng 3 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện VT truy tố bị cáo Nguyễn Thành V về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện VT luận tội đối với bị cáo và giữ nguyên quyết định truy tố. Sau khi đánh giá, tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Thành V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm i khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Thành V từ 02 năm đến 02 năm 03 tháng tù; đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo và đề nghị xử lý vật chứng theo quy định.

Tại phiên tòa, bị cáo V đã khai nhận toàn bộ hành vi Tàng trữ trái phép 0,6992g ma túy Ketamine và 0,8923g ma túy MDMA để sử dụng cho bản thân và không có lời bào chữa, ý kiến tranh luận nào khác.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo ân hận về việc làm của mình, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện VT, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện VT, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Thành V đã khai nhận toàn bộ về hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã truy tố bị cáo, bị cáo thừa nhận: Khoảng 12 giờ 05 phút ngày 12/12/2024, tại khu vực cổng làng thôn VD, xã VD, huyện VT, tỉnh VP, tổ công tác của Công an huyện VT làm nhiệm vụ phát hiện bắt quả tang bị cáo có hành vi Tàng trữ trái phép 0,6992g ma túy Ketamine và 0,8923g ma túy MDMA để sử dụng cho bản thân. Vật chứng thu giữ: 01 túi nilon không màu, miệng túi có mép vuốt và đường kẻ chỉ màu đỏ bên trong chứa 0,6992 gam ma túy Ketamine; 02 viên nén có đặc điểm giống nhau đều dạng hình hộp chữ nhật, màu xám, một mặt in chìm chữ “R”, mặt còn lại in chìm đường kẻ ngang là ma túy MDMA có khối lượng 0,8923g; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple loại iPhone XS Max màu trắng đã cũ, bên trong lắp sim thuê bao số 0325.651.502 của bị cáo.

Xét lời nhận tội của bị cáo phù hợp với các lời khai, bản kiểm điểm của bị cáo, lời khai của người làm chứng, tang vật chứng đã thu giữ được, biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập được thể hiện trong hồ sơ vụ án.

Như vậy, hành vi Tàng trữ trái phép 0,6992g ma túy Ketamine và 0,8923g ma túy MDMA, tổng tỷ lệ phần trăm của 02 loại ma túy là 21,342% của Nguyễn Thành V đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

…

i) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm b đến điểm h khoản này”

. Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của nhà nước về chất ma túy. Bị cáo có đầy đủ nhận thức hiểu biết về tác hại của ma túy, bị cáo biết rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý, làm mất trật tự trị an tại địa phương, gây bất bình trong dư luận quần chúng nhân dân. Từ việc sử dụng, mua bán ma túy là nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác nên cần có hình phạt tương xứng với tính chất mức độ thực hiện tội phạm của bị cáo.

. Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thấy rằng: bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự; bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào; bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Hội đồng xét xử xem xét để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo nhưng vẫn phải là hình phạt tù trong một thời gian nhất định, có như vậy mới có tác dụng giáo dục riêng đối với bị cáo và răn đe giáo dục phòng ngừa chung.

. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng ...”. Bị cáo là người nghiện ma túy, không có việc làm ổn định, không có tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

. Đối với Hoàng Văn T và Phùng Thị Thanh T: Cơ quan điều tra đã tiến hành triệu tập làm việc đối với Hoàng Văn T và Phùng Thị Thanh T, tại cơ quan điều tra T và T thừa nhận có quen biết xã hội với V, thi thoảng V cũng có đến nhà T, T chơi. Từ trước đến nay T chưa từng giao dịch mua bán ma túy cho V còn lý do vì sao V khai nhận như vậy thì T và T đều không biết, không có liên quan gì. Hoàng Văn T tự nguyện giao nộp cho cơ quan điều tra 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Apple, loại Iphone 12 Pro Max, màu xanh, có số IMEI: 351572599478743, bên trong lắp 01 thẻ sim mang số thuê bao 0964825482, điện thoại cũ và đã qua sử dụng, vật chứng được niêm phong ký hiệu A1; Phùng Thị Thanh T tự nguyện giao nộp cho cơ quan điều tra 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Apple, loại Iphone Xs max, màu vàng, có số Imei: 353112106776426, bên trong lắp 01 thẻ sim mang số thuê bao 0384155041, mật khẩu mở khóa màn hình là “0000”, điện thoại cũ và đã qua sử dụng, vật chứng được niêm phong ký hiệu A2 để phục vụ điều tra vụ án.

Cơ quan điều tra đã tiến hành kiểm tra đối với chiếc điện thoại tạm giữ của Phùng Thị Thanh T nêu trên, kết quả kiểm tra phát hiện tại mục điện thoại phát hiện tại phần Messenger âm thanh của tài khoản có tên “V Docle” có 03 cuộc gọi (01 cuộc gọi đến và 02 cuộc gọi đi vào khoảng thời gian từ 10 giờ 57 phút đến 11 giờ 07 phút). T khai nhận tài khoản mesenger nêu trên là của Nguyễn Thành V, sinh năm 2004 trú tại xã VD, huyện VT, tỉnh VP là người đã kết bạn qua ứng dụng mạng xã hội Mesenger, facebook. Tuy nhiên T không liên hệ, còn ai là người liên hệ thì T không biết, tại thời điểm đó T đang ngủ tại nhà ở thị trấn VT, huyện VT. Các mục khác không phát hiện thông tin gì liên quan đến hành vi mua bán trái phép chất ma túy.

Ngày 21/01/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện VT ra Quyết định trưng cầu giám định số 204, trưng cầu Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh VP giám định kỹ thuật số và điện tử đối với: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple loại iPhone XS Max màu trắng đã cũ, bên trong lắp sim thuê bao số 0325.651.502, số IMEI: 357272094416157 và IMEI2: 357272094616293, mật khẩu mở khóa màn hình là 241004 thu giữ của Nguyễn Thành V; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Apple, loại Iphone Xs max, màu vàng, có số Imei: 353112106776426, bên trong lắp 01 thẻ sim mang số thuê bao 0384155041, mật khẩu mở khóa màn hình là “0000”, điện thoại cũ và đã qua sử dụng thu giữ của Phùng Thị Thanh T.

Ngày 11/02/2025, Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh VP có bản kết luận giám định số 432/KL-KTHS, kết luận:

- Trích xuất được dữ liệu trong mẫu vật gửi giám định. Qua phân tích, tìm kiếm dữ liệu theo yêu cầu giám định, thu được kết quả:

+ Điện thoại của Nguyễn Thành V có: 612 cuộc gọi; Không tìm thấy thông tin tài khoản Messenger có tên “V Docle (V Đôn)”, địa chỉ liên kết https://facebook.com/docle.viet.106; tin nhắn ứng dụng Messenger giữa tài khoản Messenger có tên “V Docle (V Đôn)”, địa chỉ liên kết là https://facebook.com/docle.viet.106 với tài khoản Messenger có tên “Phùng Thanh T”.

+ Điện thoại của Phùng Thị Thanh T có: 2165 cuộc gọi; 02 ảnh là thông tin tài khoản Messenger tên “Phùng Thanh T”. Không tìm thấy tin nhắn ứng dụng Messenger giữa tài khoản Messenger có tên “V Docle (V Đôn)”, địa chỉ liên kết https://facebook.com/docle.viet.106 với tài khoản Messenger có tên “Phùng Thanh T”.

+ Toàn bộ dữ liệu nêu trên được thể hiện trong Phụ lục giám định. Kèm theo Kết luận giám định: 01 Phụ lục giám định gồm 87 trang giấy A4.

Cơ quan điều tra đã thông báo toàn bộ nội dung các kết luận giám định nêu trên cho V, T biết. V, T đồng ý với nội dung các kết luận giám định và không ai có ý kiến, đề nghị gì.

Hoàng Văn T không thừa nhận việc đã bán ma túy cho V và từ chối đối chất với V, ngoài lời khai thì V không cung cấp được thêm bất kỳ tài liệu gì khác nên không đủ căn cứ để khẳng định T là người đã bán ma túy cho V vào ngày 12/12/2024. Hành vi của Hoàng Văn T có dấu hiệu của tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Vì vậy, Hội đồng xét xử kiến nghị Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra làm rõ có hay không có hành vi mua bán trái phép chất ma túy của Hoàng Văn T cho Nguyễn Thành V để xử lý theo quy định của pháp luật.

Đối với Phùng Thị Thanh T là vợ của Hoàng Văn T và là chủ của tài khoản facebook tên “Phùng Thanh T”. Quá trình điều tra phát hiện ngày 12/12/2024 có phát sinh 03 cuộc gọi thoại qua ứng dụng Messenger giữa tài khoản “V Đocle (V Đôn)” của V với tài khoản “Phùng Thanh T” của T, tuy nhiên T không thừa nhận có liên lạc với V vào ngày 12/12/2024, ai là người sử dụng điện thoại của T để liên lạc với V thì T không biết. Bản thân V cũng khẳng định không liên lạc với T mà liên lạc với T (chồng T) nên T không biết và không có liên quan gì đến hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy của V. Do vậy cơ quan điều tra không đề nghị xử lý gì đối với T là có căn cứ, đúng pháp luật.

. Đối với số tài khoản 4251977325 mở tại ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam mà V đã chuyển khoản số tiền 2.000.000đ để mua ma túy vào ngày 12/12/2024. Quá trình điều tra xác định đây là số tài khoản ngân hàng của chị Trương Thị Hồng T – sinh năm 2004, trú tại: Bản Khột Sài, xã Liên Hợp, huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An. Quá trình điều tra xác định Trương Thị Hồng T đã đi khởi địa phương từ lâu, địa phương không có bất kỳ thông tin gì về T. Đến nay Cơ quan điều tra vẫn chưa triệu tập làm việc được với T, do vậy cần tiếp tục xác minh khi nào làm rõ xử lý sau.

. Đối với 02 người nam giới đã cho V đi nhờ xe mô tô đến địa điểm mua ma túy và sau khi mua ma túy đi về nhà vào ngày 12/12/2024. Quá trình điều tra xác định V không biết họ là ai, ở đâu, không nhớ bất kỳ đặc điểm gì của hai người này, khi đi nhờ xe V không nói cho họ biết là V đi mua ma túy, do vậy hai người này không biết không liên quan gì đến hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy của V.

Về xử lý vật chứng: Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Apple, loại iPhone XS Max, màu trắng, có số IMEI 1: 357272094416157, IMEI 2: 357272094616293, bên trong lắp 01 thẻ sim mang số thuê bao 0325651502, mật khẩu mở khóa màn hình là 241004. Quá trình điều tra xác định đây là tài sản hợp pháp của Nguyễn Thành V. Ngày 12/12/2024 V đã sử dụng chiếc điện thoại trên để đăng nhập ứng dụng Messenger mua ma túy về sử dụng cho bản thân. Do vậy đề nghị tịch thu bán phát mại đối với chiếc điện thoại di động sung công quỹ nhà nước; tịch thu tiêu huỷ đối với sim thuê bao.

Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Apple, loại Iphone Xs max, màu vàng, có số Imei: 353112106776426, bên trong lắp 01 thẻ sim mang số thuê bao 0384155041 và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Apple, loại Iphone 12 Pro Max, màu xanh, có số IMEI: 351572599478743, bên trong lắp 01 thẻ sim mang số thuê bao 0964825482. Quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của Phùng Thị Thanh T và Hoàng Văn T không liên quan gì đến hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy của V vào ngày 12/12/2024 nên đề nghị trả lại điện thoại và sim thuê bao nêu trên cho T và T theo quy định của pháp luật.

Đối với mẫu vật A1 = 0,4725 gam và A2 = 0,4241 cùng bao gói được niêm phong chung trong phong bì giấy theo đúng quy định của pháp luật, trên giáp lai niêm phong có chữ ký của người tham gia đóng gói, niêm phong và hình dấu của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh VP là chất cấm lưu thông nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định của pháp luật.

Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thành V phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thành V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng: điểm i khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thành V 02 (Hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ ngày 12/12/2024.

Xử lý vật chứng:

- Tịch thu bán phát mại 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Apple, loại iPhone XS Max, màu trắng và tịch thu tiêu huỷ 01 thẻ sim mang số thuê bao 0325651502 của Nguyễn Thành V.

- Trả lại cho Hoàng Văn T 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Apple, loại Iphone Xs max, màu vàng, bên trong lắp 01 thẻ sim mang số thuê bao 0384155041 và Phùng Thị Thanh Thuý 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Apple, loại Iphone 12 Pro Max, màu xanh, bên trong lắp 01 thẻ sim mang số thuê bao 0964825482.

- Tịch thu tiêu huỷ đối với mẫu vật A1 = 0,4725 gam và A2 = 0,4241 cùng bao gói được niêm phong chung trong phong bì giấy.

(Vật chứng có đặc điểm như trong biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện VT và Chi cục thi hành án dân sự huyện VT).

Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thành V phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ tuyên án; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.

Cỡ chữ