- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Kiều O xin ly hôn Khương Văn T"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị Kiều O được ly hôn anh Khương Văn T.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 235 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – HƢNG YÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 23/2025/HNGĐ-ST Ngày 13/8/2025 Về tranh chấp hôn nhân và gia đình |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - HƢNG YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đặng Thị Nguyệt
Các hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Văn Bể
2. Bà Cao Thị Lan
- Thư ký phiên toà: Bà Doãn Thị Thu Hiền - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 8 - Hưng Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Hưng Yên tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Toan - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 8 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 8 - Hưng Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 157/2025/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 6 năm 2025 về tranh ch p hôn nhân và gia đ nh theo Quy t định đưa vụ án ra xét xử số 07/2025/QĐXX-ST ngày 17 tháng 7 năm 2025 và Quy t định hoãn phiên tòa số 10/2025/QĐST-HNGĐ ngày 04 tháng 8 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Kiều O, sinh năm 1994; ĐKHKTT: Thôn N, xã Q, huyện H, tỉnh Thái Bình (Nay là thôn N, xã D, tỉnh Hưng Yên); Nơi ở hiện nay: Thôn V, xã Q, huyện H, tỉnh Thái Bình (Nay là thôn V, xã D, tỉnh Hưng Yên).
- Bị đơn: Anh Khƣơng Văn T, sinh năm 1998; Nơi cư trú: Thôn N, xã Q, huyện H, tỉnh Thái Bình (Nay là thôn N, xã D, tỉnh Hưng Yên).
(Nguyên đơn, bị đơn đều vắng mặt.)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện xin ly hôn, bản tự khai và lời khai trong quá tr nh giải quy t vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Kiều O tr nh bày và có yêu cầu cụ thể như sau: Chị và anh Khương Văn T tự nguyện k t hôn, có đăng ký k t hôn tại UBND xã Đ, huyện H, tỉnh Thái B nh (nay là UBND xã D, tỉnh Hưng Yên) vào ngày 27/11/2018. Sau khi k t hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc đ n tháng 5/2022 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh T chơi bời cờ bạc, dẫn đ n nợ nần. Từ đó dẫn đ n vợ chồng b t đồng quan điểm sống, thường xuyên xảy ra xô xát, cãi vã khi n cho không khí gia đ nh luôn căng thẳng. Chị O đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ chị O sinh sống từ tháng 6/2022, vợ chồng cũng sống ly thân từ đó đ n nay, không còn quan tâm đ n nhau. Nay chị O xác định t nh cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Tòa án giải quy t cho chị được ly hôn với anh T.
Về con chung: Chị và anh T có 01 con chung là Khương Gia H, sinh ngày 24/3/2019. Hiện con chung đang ở với chị O. Ly hôn, chị O có nguyện vọng trực ti p nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu anh T phải c p dưỡng nuôi con. Hiện chị đang sinh sống cùng bố mẹ đẻ và được bố mẹ chị sẵn sàng hỗ trợ chị chăm sóc con cái, chị có công việc và thu nhập ổn định.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quy t về tài sản.
* Tòa án đã giao, tống đạt Thông báo thụ lý vụ án, thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, ti p cận công khai chứng cứ và hòa giải, quy t định đưa vụ án ra xét xử nhưng bị đơn anh Khương Văn T không đ n Tòa án làm việc và cũng không gửi về Tòa án văn bản tr nh bày ý ki n, quan điểm của m nh đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
* Tại biên bản ghi lời khai ngày 10/7/2025, bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1978 là mẹ đẻ anh Khương Văn T cung c p: Về thời gian k t hôn, quá tr nh chung sống của vợ chồng anh Khương Văn T và chị Nguyễn Thị Kiều O như chị O tr nh bày là đúng. Sau khi k t hôn, vợ chồng anh chị chung sống cùng gia đ nh bà tại thôn N, xã D, tỉnh Hưng Yên và không xảy ra mâu thuẫn g . Tuy nhiên, không hiểu v lý do g mà chị O bỏ nhà đi từ năm 2022, vợ chồng anh chị cũng sống ly thân từ đó đ n nay. Anh T cũng không đi t m hay liên lạc g với chị O. Gia đ nh bà đã nhận được Thông báo về việc thụ lý vụ án ly hôn của Tòa án tống đạt cho anh T. Tuy nhiên, hiện anh T đi làm ăn xa không có nhà nên bà đã thông báo lại nội dung thông báo cho anh T được bi t. Anh T trao đổi lại với bà là anh không còn t nh cảm vợ chồng với chị O nên anh đồng ý ly hôn nhưng v công việc của anh T bận mải nên anh không đ n Tòa án làm việc được, đề nghị Tòa án giải quy t ly hôn đơn phương. Bà tự nguyện nhận các văn bản của Tòa án thay anh T, bà cam đoan sẽ thông báo lại nội dung văn bản cho anh T được bi t. Chị O và anh T có 01 con chung là cháu Khương Gia H, sinh ngày 24/3/2019, hiện đang ở với chị O. Ly hôn, anh T có nguyện vọng trực ti p nuôi con chung và không yêu cầu chị O c p dưỡng cho con. Hiện anh T là công nhân, thu nhập hàng tháng khoảng 15.000.000 đồng. Chị O và anh T không có tài sản chung, không có nợ chung.
* Tại biên bản xác minh đối với chính quyền địa phương cung c p: Anh Khương Văn T và chị Nguyễn Thị Kiều O có đăng ký k t hôn ngày 27/11/2018 tại UBND xã Đ, huyện H, tỉnh Thái B nh (nay là UBND xã D, tỉnh Hưng Yên). Sau khi k t hôn, vợ chồng chung sống có xảy ra mâu thuẫn g hay không th chính quyền địa phương không bi t do anh chị không yêu cầu các đoàn thể tại địa phương ti n hành hòa giải. Tuy nhiên, vợ chồng anh chị có vài lần xảy ra cãi nhau, nguyên nhân mâu thuẫn có thể là do anh T nợ nần, kinh t gia đ nh khó khăn. Vợ chồng anh chị sống ly thân khoảng 02 năm nay. Chị O, anh T có 01 con chung là Khương Gia H, sinh ngày 24/3/2019. Vợ chồng anh chị không nợ nghĩa vụ tài chính tại địa phương. Anh T làm nghề g th chính quyền địa phương không rõ nhưng anh T thường xuyên vắng nhà. Đề nghị Tòa án căn cứ theo quy định của pháp luật giải quy t theo nguyện vọng hai bên.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Hưng Yên phát biểu ý ki n: Trong quá tr nh thụ lý và giải quy t vụ án, những người ti n hành tố tụng và nguyên đơn đã ch p hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đ nh; Điều 147, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quy t số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của U ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án xử cho chị O được ly hôn anh T; xử giao con chung cho chị O nuôi dưỡng, anh T không phải c p dưỡng nuôi con; không đặt ra giải quy t về tài sản chung, nợ chung. Chị O phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Tòa án đã triệu tập hợp lệ các đương sự tham gia tố tụng nhưng nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do. Căn cứ vào Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.
Về hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị Kiều O và anh Khương Văn T được xác lập trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký k t hôn, khi k t hôn anh chị đủ điều kiện k t hôn là hôn nhân hợp pháp. Căn cứ vào lời khai của chị O, bà Nguyễn Thị H1 là mẹ đẻ anh T và xác minh tại chính quyền địa phương thể hiện quá tr nh chung sống, vợ chồng anh chị có xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân chính là do kinh t gia đ nh khó khăn dẫn đ n vợ chồng b t đồng quan điểm sống, thường xuyên xảy ra va chạm, xô xát kéo dài. Chị O đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ chị O sinh sống từ tháng 6/2022, vợ chồng cũng sống ly thân từ đó đ n nay, không quan tâm đ n nhau. Anh T cũng trao đổi lại với gia đ nh là anh không còn t nh cảm vợ chồng với chị O nên anh đồng ý ly hôn chị O. Quá tr nh giải quy t vụ án, Tòa án đã ti n hành hòa giải mục đích để vợ chồng đoàn tụ nhưng chị O giữ nguyên quan điểm cương quy t xin ly hôn; anh T không đ n Tòa án làm việc, không gửi văn bản tr nh bày quan điểm, không có biện pháp để đoàn tụ thể hiện cả hai không còn muốn duy tr quan hệ hôn nhân nữa. Như vậy, hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị Kiều O và anh Khương Văn T đã lâm vào t nh trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. V vậy cần áp dụng khoản 2 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đ nh, xử cho chị Nguyễn Thị Kiều O ly hôn anh Khương Văn T là phù hợp.
Về con chung: Chị Nguyễn Thị Kiều O và anh Khương Văn T có 01 con chung là Khương Gia H, sinh ngày 24/3/2019. Ly hôn, chị O có nguyện vọng nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu anh T c p dưỡng cho con chung. Từ khi anh T và chị O sống ly thân, con H được chị O và bố mẹ đẻ chị O chăm sóc, nuôi dưỡng có cuộc sống ổn định và phát triển về thể ch t, tinh thần b nh thường. Chị O hiện là chủ cửa hàng bán quần áo, có thu nhập hàng tháng đảm bảo cuộc sống. Khi ly hôn, anh T cũng xin nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu chị O c p dưỡng nuôi con. Tuy nhiên, trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, Tòa án đã triệu tập nhiều lần nhưng anh T không lên làm việc. Xét th y, chị O có điều kiện về nơi ở, điều kiện về kinh t , điều kiện về thời gian để nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung. Do đó, cần xử giao con Khương Gia H cho chị O trực ti p nuôi dưỡng; ch p nhận sự tự nguyện của chị O không yêu cầu anh T c p dưỡng nuôi con là phù hợp với Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân và gia đ nh.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị Nguyễn Thị Kiều O không yêu cầu Tòa án giải quy t, anh Khương Văn T không tr nh bày ý ki n về tài sản chung nên không đặt ra giải quy t.
Về án phí: Chị Nguyễn Thị Kiều O phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 4 Điều 147, Điều 235; 238; 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân và gia đ nh;
Căn cứ Điều 26; Điều 27 Nghị quy t số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
1. Về hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị Kiều O được ly hôn anh Khương Văn T.
2. Về con chung:
Xử giao con chung là Khương Gia H, sinh ngày 24/3/2019 cho chị Nguyễn Thị Kiều O trực ti p nuôi dưỡng, ch p nhận việc chị Nguyễn Thị Kiều O không yêu cầu anh Khương Văn T c p dưỡng cho con chung cùng chị.
Anh Khương Văn T có quyền đi lại, thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở. Chị Nguyễn Thị Kiều O, anh Khương Văn T có quyền yêu cầu thay đổi người trực ti p nuôi con chung và yêu cầu c p dưỡng nuôi con chung khi cần thi t.
3. Về tài sản chung, nợ chung: Không đặt ra giải quy t.
4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Kiều O phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Chuyển số tiền 300.000 đồng chị Nguyễn Thị Kiều O đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0000656 ngày 23/6/2025 tại Phòng thi hành án dân sự khu vực 8 – Hưng Yên (Chi cục thi hành án dân sự huyện Hưng Hà cũ) thành án phí.
5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Kiều O và bị đơn anh Khương Văn T vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm y t.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đặng Thị Nguyệt
| Nơi nhận: - VKSND khu vực 8 – Hưng Yên; - VKSND tỉnh Hưng Yên; - THADS tỉnh Hưng Yên; - Cơ quan thực hiện việc đăng ký k t hôn (UBND xã Diên Hà, tỉnh Hưng Yên); - TAND tỉnh Hưng Yên; - Các đương sự; - Lưu: Hồ sơ, VP. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Đặng Thị Nguyệt THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Thị Nguyệt |