vanban.org

Bản án 23/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc “Tranh chấp Ly hôn, nuôi con chung” của bà Lê Thị Thanh Ph đối với ông Đoàn Anh V

Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Lê Thị Thanh Ph được ly hôn với ông Đoàn Anh V. Về quan hệ con chung: Giao 02 con chung Đoàn Thị Thanh Huyền, sinh ngày 07/5/2007 và Đoàn Kim Uyên, sinh ngày 16/6/2020 cho bà Lê Thị Thanh Ph trực tiếp nuôi dưỡng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc “Tranh chấp Ly hôn, nuôi con chung” của bà Lê Thị Thanh Ph đối với ông Đoàn Anh V
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HÒA VANG – TP. ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 23/2025/HNGĐ-ST
Ngày 29 tháng 4 năm 2025
V/v "Tranh chấp Ly hôn, nuôi con chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA VANG, TP. ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Khánh

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Cao Văn Truyện

2. Bà Lê Thị Hoàng Thương

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Xuân Thắng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên toà: Ông Huỳnh Công Hưng - Kiểm sát viên.

Trong ngày 29 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 364/2024/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 12 năm 2024 về việc: " Tranh chấp Ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 364/2025/QĐXX-HNGĐ ngày 01 tháng 4 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 364/2025/QĐST-HNGĐ ngày 16 tháng 4 năm 2025, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Lê Thị Thanh Ph, sinh năm: 1984; Địa chỉ: Tổ 1, thôn An Ngãi Đông, xã Hòa Sơn huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng. (có mặt)

2. Bị đơn: Ông Đoàn Anh V, sinh năm: 1983; Địa chỉ: Tổ 1, thôn An Ngãi Đông, xã Hòa Sơn huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng. (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện gửi đến Tòa án ngày 08 tháng 11 năm 2024, bản tự khai và trình bày tại phiên tòa, nguyên đơn bà Lê Thị Thanh Ph thể hiện:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị Thanh Ph và ông Đoàn Anh V xây dựng gia đình năm 2003 có đăng ký kết hôn tại UBND xã Bình Lãnh, huyện Thăng Bình, tỉnh Quang Nam, hôn nhân trên cơ sở tự nguyện. Sau khi xây dựng gia đình về chung với nhau tại thôn An Ngãi Đông, xã Hòa Sơn huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng.

Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, từ năm 2016 đến nay vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn trầm trọng, nguyên nhân là do kinh tế quá khó khăn, nợ nần dẫn đến ông Đoàn Anh V thường xuyên uống rượu về nhà chửi bới, xúc phạm bà Ph nhiều lần, tuy nhiên vì con nên bà Ph để cố gắng, nhưng ông Đoàn Anh V ngày càng quá đáng, điển hành là thời gian gần đây ông Văn thường xuyên đe doạ và đánh đập bà Ph.

Nay bà Lê Thị Thanh Ph xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà Ph được ly hôn với ông Đoàn Anh V.

- Về con chung: Bà Lê Thị Thanh Ph xác định giữa bà và ông Đoàn Anh V có 03 con chung, gồm: Đoàn Anh H, sinh ngày 12/6/2003, Đoàn Thị Thanh H, sinh ngày 07/5/2007 và Đoàn Kim U, sinh ngày 16/6/2020.

Ly hôn, bà Lê Thị Thanh Ph có nguyện vọng được trực tiếp nuôi con chung Đoàn Kim U và Đoàn Thị Thanh H, không yêu cầu ông Đoàn Anh V cấp dưỡng nuôi con chung.

Đối với con chung Đoàn Anh H đã trên 18 tuổi nên không đề cập đến.

- Về tài sản chung: Bà Lê Thị Thanh Ph không yêu cầu Toà án giải quyết.

- Về nợ chung: Bà Lê Thị Thanh Ph xác định không có.

* Trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án nhân dân huyện Hòa Vang đã gửi thông báo, tiến hành các thủ tục niêm yết về việc thụ lý vụ án cho ông Đoàn Anh V, để biết việc bà Lê Thị Thanh Ph gửi đơn xin ly hôn đến Tòa án. Đồng thời, Toà án đã thông báo, niêm yết về các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; quyết định về việc đưa vụ án ra xét xử và quyết định hoãn phiên tòa đối với ông Đoàn Anh V, nhưng ông Đoàn Anh V không có ý kiến phản hồi và vắng mặt tại các phiên hoà giải cũng như hai lần mở phiên toà.

* Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa:

- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang đã căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, thụ lý giải quyết vụ án đúng thẩm quyền. Tòa án đã tiến hành việc thu thập chứng cứ đảm bảo theo quy định tại Điều 97 Bộ luật tố tụng dân sự.

Thời hạn chuẩn bị xét xử được đảm bảo theo quy định tại Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự. Việc cấp, tống đạt văn bản tố tụng đảm bảo theo các Điều 171, 177 Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên Tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa tuân theo đúng quy định của pháp luật.

- Đối với các đương sự:

+ Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của người tham gia tố tụng;

+ Bị đơn, mặc dù đã được Tòa án thực hiện việc cấp tống đạt các văn bản tố tụng theo đúng trình tự do pháp luật quy định, nhưng vẫn vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng và cũng không gửi cho Tòa án văn bản trình bày ý kiến, không thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70, 71,72 và 234 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Ý kiến về việc giải quyết vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Việc bà Lê Thị Thanh Ph yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Đoàn Anh V là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật, vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, xử cho bà Lê Thị Thanh Ph được ly hôn với ông Đoàn Anh V.

Về con chung: Giao 02 con chung chưa thành niên là Đoàn Thị Thanh H, sinh ngày 07/5/2007 và Đoàn Kim U, sinh ngày 16/6/2020 cho bà Lê Thị Thanh Ph trực tiếp nuôi dưỡng. Bà Ph không yêu cầu ông Đoàn Anh V cấp dưỡng nuôi con chung nên không xem xét.

Về tài sản chung: Bà Lê Thị Thanh Ph không yêu cầu Toà án nên không xem xét.

Về nợ chung: Bà Lê Thị Thanh Ph xác định không có.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng phát biểu quan điểm về vụ án, sau khi thảo luận và nghị án. Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng

Bà Lê Thị Thanh Ph khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Đoàn Anh V, sinh năm: 1983; Địa chỉ: Tổ 1, thôn An Ngãi Đông, xã Hòa Sơn huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng.

Căn cứ Điều 28, điểm a khoản 1 Điểu 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự thì đây là vụ án tranh chấp ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nên Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng thụ lý giải quyết là đúng quy định của pháp luật.

- Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ ông Đoàn Anh V tham gia phiên tòa đến lần thứ hai nhưng ông Đoàn Anh V vẫn vắng mặt. Vì vậy căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông Đoàn Anh V.

Về nội dung

Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị Thanh Ph và ông Đoàn Anh V xây dựng gia đình năm 2003 có đăng ký kết hôn tại UBND xã Bình Lãnh, huyện Thăng Bình, tỉnh Quang Nam, hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, đây là hôn nhân hợp pháp nên được pháp luật tôn trọng và bảo vệ.

Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, bà Lê Thị Thanh Ph giữ nguyên yêu cầu khởi kiện xin được ly hôn với ông Đoàn Anh V, lý do là tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được.

Xét yêu cầu của Lê Thị Thanh Ph thì thấy: Hạnh phúc gia đình chỉ thực sự đạt được khi cả vợ chồng cùng yêu thương, chia sẻ, quan tâm nhau. Tuy nhiên theo bà Ph thì trong thời gian chung sống với nhau giữa bà và ông Văn không có được những điều đó thể hiện ở việc vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn cãi vã nhau, bản thân ông Văn thường xuyên uống rượu bia về nhà cửi bới đánh đập bà Ph.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập các bên đương sự để tiến hành hòa giải nhiều lần nhưng vẫn không thực hiện được do ông Đoàn Anh V không hợp tác, điều này thể hiện ông Đoàn Anh V không có thiện chí để hàn gắn hạnh phúc gia đình.

Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn giữa bà Lê Thị Thanh Ph và ông Đoàn Anh V là có thật và đã đến mức độ trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Lê Thị Thanh Ph đối với ông Đoàn Anh V là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.

Về quan hệ con chung: Bà Lê Thị Thanh Ph xác định giữa bà và ông Đoàn Anh V có 03 con chung, gồm: Đoàn Anh y, sinh ngày 12/6/2003, Đoàn Thị Thanh H, sinh ngày 07/5/2007 và Đoàn Kim U, sinh ngày 16/6/2020.

Ly hôn, bà Lê Thị Thanh Ph có nguyện vọng được trực tiếp nuôi con chung Đoàn Kim U và Đoàn Thị Thanh H, không yêu cầu ông Đoàn Anh V cấp dưỡng nuôi con chung.

Còn ông Đoàn Anh V không có ý kiền gì đối với yêu cầu nguyện vọng xin được trực tiếp nuôi dưỡng con chung của bà Lê Thị Thanh Ph.

Hội đồng xét xử xét thấy: Việc giao con chung cho ai nuôi dưỡng phải đảm bảo cuộc sống cũng như tương lai của con chung và điều kiện thực tế của mỗi bên. Hiện tại bà Lê Thị Thanh Ph có công việc ổn định và con chung đang được bà Ph chăm sóc, nuôi dưỡng. Vì vậy, Hội đồng xét xử nhận thấy việc giao con chung cho bà Lê Thị Thanh Ph trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp, nên chấp nhận yêu cầu xin được nuôi con chung của bà Lê Thị Thanh Ph.

Bà Lê Thị Thanh Ph không yêu cầu ông Đoàn Anh V phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung: Bà Lê Thị Thanh Ph không yêu cầu Toà án nên không xem xét.

Về nợ chung: Bà Lê Thị Thanh Ph xác định không có.

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoà Vang đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Về án phí: Căn cứ vào Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bà Lê Thị Thanh Ph phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm;

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc “Tranh chấp Ly hôn, nuôi con chung” của bà Lê Thị Thanh Ph đối với ông Đoàn Anh V

Căn cứ Điều: 28; điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 39; khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình.

Tuyên Xử:

1.Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Lê Thị Thanh Ph được ly hôn với ông Đoàn Anh V.

2.Về quan hệ con chung: Giao 02 con chung Đoàn Thị Thanh Huyền, sinh ngày 07/5/2007 và Đoàn Kim Uyên, sinh ngày 16/6/2020 cho bà Lê Thị Thanh Ph trực tiếp nuôi dưỡng.

Ông Đoàn Anh V không phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung.

Các bên đương sự có mọi quyền và nghĩa vụ đối với con chung theo quy định của pháp luật. Khi vì lợi ích con chung, các bên đương sự có quyền xin thay đổi người nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

3.Về tài sản chung: Bà Lê Thị Thanh Ph không yêu cầu Toà án giải quyết.

4. Về nợ chung: Bà Lê Thị Thanh Ph xác định không có.

5.Về án phí: Căn cứ Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm: 300.000đ bà Lê Thị Thanh Ph phải chịu, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ bà Ph đã nộp tại biên lai thu số 0008287 ngày 09/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng. Như vậy bà Lê Thị Thanh Ph đã nộp đủ án phí Hôn nhân gia đình;

6.Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Riêng bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án, hoặc từ ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ