- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Án Vi Thị N-Lương Văn Đ (Ly hôn)"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Vi Thị N.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ SƠN TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 23/2025/HNGĐ-ST Ngày 30 tháng 05 năm 2025 V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ SƠN, TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà:
Bà Vi Thị Khuyên.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Kha Thị Thuần;
2. Ông Dềnh Bá Lồng.
- Thư ký phiên toà: Ông Quang Thái Tài - Thư ký Tòa án Tòa án nhân dân huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Ông Và Bá Của- Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 05 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Kỳ Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 24/2025/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 03 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2025/QĐXX-ST ngày 22 tháng 04 năm 2025, quyết định hoãn phiên tòa số: 17/2025/QĐST-DS ngày 08 tháng 05 năm 2025 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Vi Thị N; Sinh năm 1986
Nơi cư trú: Bản X, xã M, huyện K, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
2. Bị đơn: Anh Lương Văn Đ; sinh năm: 1983.
Nơi cư trú: Bản X, xã M, huyện K, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt (Không có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại phiên tòa nguyên đơn chị Vi Thị N vắng mặt, tuy nhiên theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, chị Vi Thị N trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Lương Văn Đ có tìm hiểu và lấy nhau năm 2009, đến ngày 21/08/2014 có tiến hành đăng kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện K, tỉnh Nghệ An, hôn nhân hoàn toàn tự nguyện, không bị ép buộc. Quá trình vợ chồng chung sống thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, dù có cố gắng nhưng hai bên vẫn không giải quyết được, không còn tìm được tiếng nói chung trong cuộc sống và tình cảm. Hiện chị Vi Thị N không còn tình cảm, đời sống chung không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh Lương Văn Đ.
Về con chung (con riêng): Chị Vi Thị N và anh Lương Văn Đ có 02 con chung là cháu Lương Thanh T, sinh ngày 21/10/2009 và cháu Lương Thành T1, sinh ngày 29/09/2011 nay ly hôn nguyện vọng của chị Vi Thị N là được nuôi dưỡng và chăm sóc cả 02 con chung là cháu Lương Thanh T và Lương Thành T1 cho đến khi các con trưởng thành (đủ 18 tuổi). Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Vi Thị N không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung và các khoản nợ chung: Chị Vi Thị N không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với bị đơn vắng mặt tại phiên tòa: Sau khi thụ lý đơn khởi kiện, thông báo thụ lý vụ án, qua xác minh anh Lương Văn Đ thường xuyên vắng mặt tại địa phương, đi đâu và làm gì không ai biết, thỉnh thoảng có trở về địa phương thăm gia đình, hiện nay anh Lương Văn Đ không khai báo về việc thay đổi nơi cư trú, Tòa án đã tiến hành niêm yết công khai tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện K, tỉnh Nghệ An và nơi cư trú cuối cùng của bị đơn. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm, bị đơn anh Lương Văn Đ vẫn vắng mặt, mặc dù đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nên Tòa án không thể tiến hành các thủ tục tố tụng theo đúng quy định tại Điều 204, 207, 208 và Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Tòa án thụ lý đúng thẩm quyền, xác định quan hệ tranh chấp; Trong quá trình điều tra thu thập chứng cứ Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định tại Điều 48 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc thu thập chứng cứ, tống đạt đảm bảo quyền của đương sự. Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử thực hiện đúng theo trình tự từ Điều 239 đến Điều 260 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của Thư ký phiên tòa được thực hiện đúng quy định tại Điều 51 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của đương sự: Bị đơn vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn chấp hành đúng quy định của pháp luật, bị đơn chưa chấp hành đúng các quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Về hôn nhân: Cho chị Vi Thị N và anh Lương Văn Đ được ly hôn; về con chung: Giao 02 con chung là cháu Lương Thanh T, sinh ngày 21/10/2009 và cháu Lương Thành T1, sinh ngày 29/09/2011 cho chị Vi Thị N nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến khi con đủ 18 tuổi. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho anh Lương Văn Đ do chị Vi Thị N không yêu cầu; về tài sản chung, nợ chung: Nguyên đơn chị Vi Thị N không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét; về án phí: Nguyên đơn chị Vi Thị N phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn chị Vi Thị N yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh Lương Văn Đ có địa chỉ cư trú tại Bản X, xã M, huyện K, tỉnh Nghệ An. Đây là vụ án tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Kỳ Sơn theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về tố tụng: Sau khi thụ lý vụ kiện Tòa án đã tiến hành đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành tốt các quyết định của Tòa án. Tại phiên tòa nguyên đơn chị Vi Thị N vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn anh Lương Văn Đ thường xuyên vắng mặt tại địa phương, không chấp hành các quyết định của Tòa án, gây khó khăn cho công tác điều tra, thu thập chứng cứ. Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử và tống đạt cho đương sự hợp lệ nhiều lần nhưng tại phiên tòa hôm nay bị đơn vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là đúng quy định tại Điều 207 và Điều 227 khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Vi Thị N và anh Lương Văn Đ tự nguyện kết hôn sau một thời gian tìm hiểu, kết hôn đúng điều kiện, nơi đăng ký kết hôn là tại UBND xã M, huyện K, tỉnh Nghệ An nên đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Thời gian đầu khi mới lấy nhau vợ chồng chung sống hạnh phúc, yêu thương nhau cùng nhau vun vén, xây dựng gia đình, khoảng thời gian sau thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, dù có cố gắng nhưng hai bên vẫn không giải quyết được, không còn tìm được tiếng nói chung trong cuộc sống và tình cảm. Xét thấy, hôn nhân của chị Vi Thị N và anh Lương Văn Đ đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cho chị Vi Thị N được ly hôn với anh Lương Văn Đ.
Về con chung: Chị Vi Thị N và anh Lương Văn Đ 02 con chung là cháu Lương Thanh T, sinh ngày 21/10/2009 và cháu Lương Thành T1, sinh ngày 29/09/2011, nay ly hôn nguyện vọng của chị Vi Thị N là được nuôi dưỡng và chăm sóc con chung cho đến khi con trưởng thành (đủ 18 tuổi). Xét thấy, các cháu đang còn nhỏ và có đơn xin nguyện vọng được ở với chị Vi Thị N, hiện nay anh Lương Văn Đ thường xuyên vắng mặt tại địa phương, đi đâu và làm gì không ai biết, chỉ thỉnh thoảng về địa phương để thăm gia đình nhưng không ở lại lâu dài. Vì vậy, cần giao 02 con chung là cháu Lương Thanh T, sinh ngày 21/10/2009 và cháu Lương Thành T1, sinh ngày 29/09/2011 cho chị Vi Thị N được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến khi con trưởng thành (đủ 18 tuổi) là phù hợp, đúng quy định, đảm bảo quyền lợi mọi mặt của con.
Đối với yêu cầu cấp dưỡng nuôi con: Do chị Vi Thị N không yêu cầu nên tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng đối với anh Lương Văn Đ. Trường hợp chị Vi Thị N nuôi con không đảm bảo quyền, lợi ích của con mà anh Lương Văn Đ có căn cứ chứng minh thì có quyền làm đơn thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn hoặc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Trường hợp anh Lương Văn Đ lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì chị Vi Thị N có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của anh Lương Văn Đ.
Về tài sản chung và các khoản nợ chung: Nguyên đơn chị Vi Thị N không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Các đề nghị của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa về việc giải quyết toàn bộ vụ án là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên cần chấp nhận.
Về án phí: Nguyên đơn chị Vi Thị N phải nộp án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ vào Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Vi Thị N.
1. Về hôn nhân: Cho chị Vi Thị N được ly hôn với anh Lương Văn Đ.
2. Về con chung: Giao 02 con chung là cháu Lương Thanh T, sinh ngày 21/10/2009 và cháu Lương Thành T1, sinh ngày 29/09/2011 cho chị Vi Thị N được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến khi con đủ 18 tuổi, trưởng thành. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đối với anh Lương Văn Đ do chị Vi Thị N không yêu cầu. Anh Lương Văn Đ có quyền, nghĩa vụ chăm sóc, thăm nom con chung không ai được cản trở. Trường hợp chị Vi Thị N là người trực tiếp nuôi con chung không đảm bảo quyền, lợi ích của con mà anh Lương Văn Đ có căn cứ chứng minh thì anh Lương Văn Đ có quyền yêu cầu Tòa án xem xét, thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn hoặc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Trường hợp anh Lương Văn Đ lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì chị Vi Thị N có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của anh Lương Văn Đ.
3. Về án phí: Chị Vi Thị N phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn) án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn) đã nộp tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án theo biên lai thu số 0001137 ngày 12/03/2025 tại Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An (Chị Vi Thị N đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm).
4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn chị Vi Thị N và bị đơn anh Lương Văn Đ vắng mặt, có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định./.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - TAND tỉnh Nghệ An; - VKSND huyện Kỳ Sơn; - Chi cục THADS huyện Kỳ Sơn; - UBND xã M, huyện K; - Lưu hồ sơ; VP.TA | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Vi Thị Khuyên |