- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "bản án Trang - Tuân"
- Tòa quyết gì? Xử cho chị Lã Thị Huyền T được ly hôn đối với anh Bùi Văn T1.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHO QUAN TỈNH NINH BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 23/2025/HNGĐ-ST Ngày: 25/4/2025 V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung khi ly hôn”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHO QUAN, TỈNH NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lâm Thị Thanh Nhàn.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Phiếu
Bà Nguyễn Thị Phương Thiệu
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Bình- Thẩm tra viên, Toà án nhân dân huyện Nho Quan
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Nho Quan tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thị Ngần– Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 4 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 14/2025/TLST- HNGĐ ngày 06/02/2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung khi ly hôn”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 03 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 17/2025/ QĐST- HNGĐ ngày 15/4/2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Lã Thị Huyền T sinh năm 2001; Địa chỉ: Xóm B, xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình (Có đơn xin xét xử vắng mặt)
- Bị đơn: Anh Bùi Văn T1 sinh năm 1992; địa chỉ:Thôn Y, xã Y, huyện N, tỉnh Ninh Bình (Vắng mặt không có lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, Bản tự khai, nguyên đơn chị Lã Thị Huyền T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh T1 được tự do tìm hiểu và tự nguyện đi đăng ký kết hôn ngày 17/6/2022 tại UBND xã Y, huyện N, tỉnh Ninh Bình sau khi kết hôn vợ chồng chị chung sống hòa thuận hạnh phúc được khoảng 01năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh chị không có tiếng nói chung. Thường xuyên đánh chửi nhau và xúc phạm nhau. Trong thời gian sinh sống hai vợ chồng chị mâu thuẫn càng trầm trọng khiến không khí gia đình căng thẳng. Kể từ 2023, chị T và anh T1 đã ly thân cho đến nay và bản thân chị T đã dọn về nhà bố mẹ đẻ ở xã K, huyện Y để ở cho đến nay. Chị T thấy cho đến nay mâu thuẫn đã căng thẳng, trầm trọng không còn ai quan tâm đến cuộc sống của nhau nữa. Nên chị làm đơn này đề nghị Tòa án cho chị được ly hôn với anh Bùi Văn T1.
Về con chung Tôi và anh T1 có 01 con chung là cháu Bùi Gia K sinh ngày 24/03/2023 hiện nay đang ở mẹ. Khi ly hôn chị T có nguyện vọng được nuôi cháu K đến khi cháu đủ 18 tuổi.
Về cấp dưỡng nuôi con: chị T không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con
Về tài sản chung và công nợ chung không có nên chị không đề nghị Tòa án giải quyết.
Tại đơn xin xét xử vắng mặt chị T vẫn đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Bùi Văn T1 vì tình cảm anh chị không còn. Về con chung khi ly hôn chị T có nguyện vọng được nuôi cháu Bùi Gia K đến khi cháu đủ 18 tuổi và về cấp dưỡng nuôi con không yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung và công nợ chung chị T không đề nghị Tòa án giải quyết.
Tại bản tự khai, các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ bị đơn anh Bùi Văn T1 trình bày:
- Bị đơn anh T1 đã được Tòa án thông báo hợp lệ nhưng vẫn không có mặt. Quá trình giải quyết Tòa án đã đến nhà để làm việc gặp mẹ của bị đơn bà Quách Thị T2 , bà T2 đã nhận thay các văn bản tố tụng cho bị đơn và cam kết sẽ giao tận tay và thông báo cho bị đơn. Tuy nhiên đến nay bị đơn vẫn không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nho Quan tham gia tố tụng tại phiên tòa giải quyết vụ án sơ thẩm phát biểu ý kiến:
Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án. Đề nghị Hội đồng xét xử:
- Căn cứ Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Điều 5, Điều 147, Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
1. Xử cho chị Lã Thị Huyền T được ly hôn đối với anh Bùi Văn T1.
2. Về con chung: Giao cho chị Lã Thị Huyền T trực tiếp nuôi dưỡng và giáo dục đối với cháu Bùi Gia K sinh ngày 24/03/2023 cho đến khi cháu K đủ 18 tuổi.
Về cấp dưỡng nuôi con: Không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
“Cha mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở giáo dục con; Cha mẹ không trực tiếp nuôi con không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con”
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.
3. Về tài sản chung, công nợ chung: chị T không yêu cầu, không xem xét giải quyết.
4. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: chị Lã Thị Huyền T phải nộp toàn bộ án phí ly hôn là 300.000 đồng, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chị cục thi hành án dân sự huyện Nho Quan.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa; kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên Hội đồng xét xử nhận định các vấn đề phải giải quyết trong vụ án như sau:
.Về áp dụng pháp luật tố tụng:
Quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Đây là quan hệ ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn; Tòa án nhân dân huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo khoản 1 Điều 28, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Trong quá trình giải quyết vụ án, chị Lã Thị Huyền T có đơn đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải. Theo khoản 4 Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án không tiến hành hòa giải là có căn cứ.
- Ngày 14/03/2025 là nguyên đơn chị Lã Thị Huyền T có đơn xin xét xử vắng mặt. Theo quy định Điều 227; Khoản 1, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị T.
- Anh Bùi Văn T1 là bị đơn trong vụ án đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai vẫn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Vì vậy Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh T1 theo quy định tại điểm b, khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
.Về áp dụng pháp luật nội dung:
.Về quan hệ hôn nhân: chị Lã Thị Huyền T và anh Bùi Văn T1 được tự do tìm hiểu và có đăng ký kết hôn vào 17/6/2022 tại UBND xã Y, huyện N, tỉnh Ninh Bình trên cơ sở tự nguyện đây là cuộc hôn nhân hợp pháp cần được pháp luật bảo vệ. Theo Giấy chứng nhận kết hôn số 27 ngày 17/6/2022. Đây là hôn nhân hợp pháp theo Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình.
Sau khi kết hôn vợ chồng chị T và anh T1 chung sống hòa thuận hạnh phúc được đến năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh chị không có tiếng nói chung, thường xuyên đánh chửi nhau và xúc phạm nhau. Trong thời gian sinh sống hai vợ chồng anh chị mâu thuẫn càng trầm trọng khiến không khí gia đình căng thẳng. Cuối năm 2023 chị T đã dọn về nhà bố mẹ đẻ ở xã K, huyện Y để ở cho đến nay mâu thuẫn đã căng thẳng, trầm trọng không còn ai quan tâm đến cuộc sống của nhau nữa nên chị T đề nghị xin ly hôn anh T1. Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Bùi Văn T1 đã được Tòa án thông báo hợp lệ nhưng vẫn không có mặt. Tòa án đã tiến hành làm việc tại gia đình anh T1 thì mẹ đẻ anh T1 đã có ý kiến trao đổi lại với Tòa án như sau: Anh T1 đã nhận được thông báo thụ lý vụ án của Tòa án và đã biết việc chị T xin ly hôn; Tuy nhiên đến nay bị đơn vẫn không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án. Chính quyền địa phương nơi chị T và anh T1 đăng ký kết hôn và cư trú cũng xác nhận: Sau khi đăng ký kết hôn có sinh sống tại xã Y, huyện N. Nguyên nhân mâu thuẫn giữa vợ chồng chị T và anh T1 thì địa phương không nắm rõ nhưng thực tế khi sinh sống ở địa phương chị T, anh T1 có xảy ra mâu thuẫn, xích mích, cãi chửi xúc phạm lẫn nhau và chị T đã dọn về nhà mẹ đẻ ở xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình. Do vậy Hội đồng xét xử xét thấy có căn cứ chấp nhận đơn khởi kiện của chị Lã Thị Huyền T, xử cho chị Lã Thị Huyền T được ly hôn với anh Bùi Văn T1 là phù hợp Điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình.
.Về con chung: Chị T và anh T1 có 01 con chung là cháu Bùi Gia K sinh ngày 24/03/2023 hiện nay đang ở mẹ. Khi ly hôn chị T có nguyện vọng được nuôi cháu K đến khi cháu đủ 18 tuổi và về cấp dưỡng không yêu cầu anh T1 cấp dưỡng. Thì thấy từ khi chị T và anh T1 dọn ra chỗ khác ở không còn ở cùng nhau, cháu K do chị T chăm sóc, nuôi dưỡng. Xét thấy chị T có thu nhập ổn định, đủ điều kiện đảm bảo cuộc sống cho cháu và cháu K hiện nay chưa đủ 36 tháng tuổi. Vì vậy, căn cứ Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình, Tòa án giao cho chị Lã Thị Huyền T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Bùi Gia K đến khi cháu đủ 18 tuổi.
Về cấp dưỡng nuôi con: không yêu cầu do vậy Hội đồng xét xử không xem xét.
.Về tài sản chung, công nợ chung: Chị T không yêu cầu do vậy Hội đồng xét xử không xem xét
.Về án phí: Chị Lã Thị Huyền T chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 51, khoản 2 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 147, điểm b, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Xử cho chị Lã Thị Huyền T được ly hôn đối với anh Bùi Văn T1. Quan hệ hôn nhân của chị Lã Thị Huyền T và anh Bùi Văn T1 chấm dứt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
2. Về con chung: Giao cho chị Lã Thị Huyền T trực tiếp nuôi dưỡng và giáo dục đối với cháu Bùi Gia K sinh ngày 24/03/2023 cho đến khi cháu K đủ 18 tuổi.
Về cấp dưỡng nuôi con: Anh T1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
“Cha mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở giáo dục con; Cha mẹ không trực tiếp nuôi con không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con”
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.
3. Về tài sản chung, công nợ chung: Tòa án không xem xét.
4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Lã Thị Huyền T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Được trừ vào số tiền tạm ứng án phí tại Chi Cục Thi hành án Dân sự huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số BLTU/23/0000952 ngày 04/ 02/2025.
Án xử công khai sơ thẩm chị T và anh T1 vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Ninh Bình; - VKSND H. NQ; - Chi cục THA H. NQ; - UBND thị trấn NQ; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Lâm Thị Thanh Nhàn THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Lâm Thị Thanh Nhàn |