vanban.org

Bản án 23/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Căn cứ chính? Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN DIÊN KHÁNH
TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 23/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 24/4/2025
Về tranh chấp: "Ly hôn"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIÊN KHÁNH

TỈNH KHÁNH HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Đức Thuận

Các hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Thành;

Ông Phạm Văn Hóa.

- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Xuân Quý – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Diên

Khánh, tỉnh Khánh Hòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Diên Khánh tham gia phiên tòa: Ông

Bùi Nguyên Huy – Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Diên Khánh mở

phiên tòa xét xử công khai theo thủ tục thông thường vụ án hôn nhân gia đình sơ thẩm

thụ lý số: 21/2025/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 01 năm 2025 về "Tranh chấp ly hôn

với người mất tích" theo Quyết định đưa vụ án xét xử số: 18/2025/QĐXXST-HNGĐ

ngày 28 tháng 3 năm 2025, giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Ông Võ Thạch L – sinh năm 1979

Địa chỉ: Thôn X, xã Xuân Đồng, huyện Diên Khánh, Khánh Hòa. Ông Lữ có

mặt.

* Bị đơn: Bà Từ Thị Ngọc C – sinh năm 1985

Địa chỉ: Thôn X, xã Diên Xuân (nay là xã Xuân Đồng), huyện Diên Khánh,

Khánh Hòa.

Nơi cư trú cuối cùng: Thôn Xuân Đông, xã Diên Xuân (nay là xã Xuân Đồng),

huyện Diên Khánh, Khánh Hòa. (vắng mặt theo Quyết định tuyên bố mất tích số

xx/2024/QĐST-VDS ngày 20/11/2024 của Tòa án nhân dân huyện Diên Khánh)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện đề ngày 03/01/2025 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên

đơn ông Võ Thạch L trình bày: Ông và bà Từ Thị Ngọc C tự nguyện chung sống với

nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Diên Xuân (nay là xã Xuân

Đồng), huyện Diên Khánh, đã được cấp giấy chứng nhận kết hôn số xx/2003 ngày

17/3/2003. Quá trình chung sống vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cãi nhau,

bất đồng quan điểm sống. Năm 2020, bà C bỏ nhà đi đâu không rõ. Từ năm 2020 đến

nay gia đình đã nhiều lần tổ chức đi tìm bà C, hỏi thăm những người thân thích với bà

C nhưng không đạt kết quả. Hiện nay gia đình cũng không biết bà C sống hay đã chết, nơi cư trú cuối cùng trước khi bà C bỏ đi là thôn X, xã Diên Xuân (nay là xã Xuân Đồng), huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa. Ông L làm đơn xác nhận bà Từ Thị Ngọc C bỏ đi khỏi địa phương từ năm 2020 cho đến nay. Do bà C bỏ đi không để lại địa chỉ nên ông Võ Ngọc L đã có đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố bà C mất tích để ông L khởi kiện xin ly hôn. Đến ngày 20/11/2024 của Tòa án nhân dân huyện Diên Khánh ban hành Quyết định số xx/2024/QĐST-VDS tuyên bố bà Lữ Thị Ngọc C mất tích.

Kể từ khi có Quyết định của Tòa án tuyên bố bà Từ Thị Ngọc C mất tích đến

nay ông L cũng không thấy bà C trở về. Vì vậy, ông L khởi kiện ra Tòa án nhân dân huyện Diên Khánh yêu cầu xin ly hôn với bà Từ Thị Ngọc C.

Tại phiên tòa sơ thẩm ông Võ Thạch L vẫn giữ nguyên yêu cầu Tòa án nhân dân

huyện Diên Khánh giải quyết cho ông L được ly hôn với bà Từ Thị Ngọc C.

Về con chung: Ông L xác định vợ chồng có 03 con chung là Võ Thành L1 –

sinh năm 2003; Võ Thành L2 – sinh năm 2005 và Võ Thành P - sinh ngày: 06/4/2016. Cháu L1 và cháu L2 đã trưởng Thành. Cháu P chưa thành niên hiện ông L đang nuôi dưỡng, nay ông L yêu cầu được nuôi con không yêu cầu cấp dưỡng.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bà Từ Thị Ngọc C do đã bỏ đi và đã có Quyết định tuyên bố mất tích

nên Tòa án nhân dân huyện Diên Khánh không thể triệu tập để lấy lời khai và hòa giải được.

* Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu

cầu của nguyên đơn; Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn phát biểu việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, thư ký, các đương sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được xem xét tại phiên Tòa; căn cứ vào

kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát, xét thấy:

Về tố tụng: Ông Võ Thạch L và Từ Thị Ngọc C sống chung với nhau từ

năm 2003, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban xã Diên Xuân (nay là xã Xuân Đồng), huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa, bà Từ Thị Ngọc C có nơi cư trú cuối cùng tại thôn Xuân Đông, Diên Xuân (nay là xã Xuân Đồng), huyện Diên Khánh. Nay ông L có đơn yêu cầu ly hôn căn cứ vào khoản 1, điều 28, điểm a, khoản 1, điều 35, 39 Bộ luật tố tụng dân sự nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Diên Khánh.

Ông Võ Thạch L và bà Từ Thị Ngọc C kết hôn hoàn toàn tự nguyện và

cuộc sống chung của vợ chồng hạnh phúc được một thời gian, sau đó phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng không hợp nhau, thường xuyên xảy ra xung đột, cãi nhau, từ đó vợ chồng không còn tình cảm. Đến năm 2020 thì bà C bỏ đi luôn cho đến nay không thông báo cho gia đình biết đi đâu và làm gì. Từ đó gia đình mất liên lạc với bà C, gia đình đã nhiều lần liên lạc, tìm kiếm nhiều nơi nhưng vẫn không có kết quả.

Do bà C bỏ đi đã lâu mà không có tin tức, tình cảm vợ chồng không còn vì

vậy ông L có đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố bà C mất tích với lý do để xin ly hôn. Sau khi thụ lý đơn yêu cầu tuyên bố mất tích của ông L đối với bà C, Tòa án đã thông báo

tìm kiếm bà C trên thông tin đại chúng nhưng vẫn không có tin tức. Ngày 20/11/2024

Tòa án nhân dân huyện Diên Khánh đã ban hành Quyết định số xx/2024/QĐST-VDS

tuyên bố bà Từ Thị Ngọc C mất tích.

Tại phiên tòa sơ thẩm ông L vẫn kiên quyết yêu cầu được ly hôn với bà C.

Như vậy cho đến thời điểm này tình cảm vợ chồng giữa ông L và bà C là không còn,

hai người không còn sống chung với nhau nhiều năm, không còn liên lạc, quan tâm

chăm sóc lẫn nhau, bà C bỏ ông L ra đi mà không cùng với ông L lo vun vén để tạo

dựng hạnh phúc gia đình. Từ ngày bà C bỏ đi đến nay ông L đã có nhiều cố gắn nuôi

dạy con chung và tìm kiếm bà C. Đồng thời Tòa án cũng đã có thông báo tìm kiếm

nhưng không mang lại kết quả. Cho dù ông L có muốn hàn gắn lại hạnh phúc gia

đình cũng không thể đạt được, mâu thuẫn đã đến mức trầm trọng dẫn đến cuộc sống

hôn nhân không thể tồn tại và kéo dài. Do đó, yêu cầu xin ly hôn của ông L đối với

bà C là có cơ sở.

Về con chung: Ông L xác định vợ chồng có 03 con chung là Võ Thành L1

– sinh năm 2003; Võ Thành L2 – sinh năm 2005 và Võ Thành P - sinh ngày:

06/4/2016. Cháu L1 và cháu L2 đã trưởng thành. Cháu P chưa thành niên hiện ông L

đang nuôi dưỡng, nay ông L yêu cầu được nuôi con không yêu cầu cấp dưỡng. Nhận

thấy ông L có yêu cầu tiếp tục nuôi và không yêu cầu cấp dưỡng là hoàn tự nguyện

và có căn cứ nên chấp nhận.

Về tài sản chung và nợ chung: Ông L xác định không có, không yêu cầu

giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Ông Võ Thạch L chịu toàn bộ án phí.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

- Điều 28; Điều 35, Điều 39, khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; khoản 1

Điều 149 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

- Điều 68 Bộ luật dân sự năm 2015.

- Khoản 2 điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 Luật hôn

nhân và gia đình.

- Nghị Quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng

án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban Thường vụ Quốc hội số 326/2016/UBTVQH14

ngày 30/12/2016.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn

Ông Võ Thạch L được ly hôn bà Từ Thị Ngọc C.

2. Về con chung: Giao con chung chưa thành niên là Võ Thành P, sinh ngày:

06/4/2016 cho ông Võ Thạch L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

Ông L không yêu cầu bà C cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Ông L không yêu cầu nên không xét.

4. Về án phí: Ông Võ Thạch L phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng)

án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, nhưng được trừ vào 300.000 đồng (Ba trăm nghìn

đồng) tiền tạm ứng án phí ông L đã nộp theo biên lai số 00013xx ngày 09/01/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Diên Khánh. Ông L đã nộp đủ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 thì

người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

5. Quyền kháng cáo: Ông Võ Thạch L có quyền kháng cáo bản án trong thời

hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng bà Từ Thị Ngọc C có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Cỡ chữ