vanban.org

Bản án 23/2024/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Hồng Bàng, TP. Hải Phòng Tuyên án 26/01/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tuyên:

Tịch thu tiêu hủy: 01(một) bì giấy nguyên niêm phong chứa mẫu vật còn lại và vỏ bao gói của mẫu QT sau giám định có dấu niêm phong số 748MT/PC09 của Phòng Kỹ thuật hình sự (PC09) - Công an thành phố Hải Phòng; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị Th - Đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tuyên:
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HỒNG BÀNG CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 23/2024/HS-ST
Ngày 12-01-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HỒNG BÀNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Trần Thị Quỳnh Như.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Ngọc Hải;

Ông Bùi Văn Khương.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu - Thư ký Toà án nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Ngọc Linh - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 01 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng và điểm cầu thành phần tại Trại tạm giam Công an thành phố Hải Phòng xét xử trực tuyến công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 28/2023/TLST-HS ngày 28 tháng 12 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 26/2023/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo:

Trần Ánh B, sinh ngày 24 tháng 7 năm 1986 ta ̣i Hải Phòng. Nơi ĐKNKTT: Số 5C1/2 Phạm Phú Thứ, phường Hạ Lý, quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng; nơi ở hiện nay: Số 7/1/2B Phạm Phú Thứ, phường Hạ Lý, quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng; nghề nghiê ̣p: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn Mỗ (đã chết) và bà Nguyễn Thị Ngãi; chưa có vợ, con; nhân thân, tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 20/9/2023, chuyển tạm giam từ ngày 26/9/2023. Có mặt.

Người chứng kiến: Ông Nguyễn Công T; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 12 giờ ngày 20/9/2023, lực lượng Công an quận Hồng Bàng làm nhiệm vụ tại khu vực trước số 04B Bạch Đằng, phường Hạ Lý, quận Hồng Bàng, Hải Phòng phát hiện Trần Ánh B có biểu hiện nghi vấn cất giấu trái phép chất ma túy. Tiến hành kiểm tra, B bỏ chạy và thả từ lòng bàn tay trái của B xuống đất 01 túi nilon màu trắng bên trong chứa tinh thể màu trắng (nghi ma túy) (mẫu QT), lực lượng Công an đã đưa B cùng vật chứng về trụ sở Công an phường Hạ Lý lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Thu giữ của B: 01 túi nilon màu trắng bên trong chứa tinh thể màu trắng (nghi ma túy), 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung đã qua sử dụng bị nứt vỡ màn hình, không hiển thị nội dung trên màn hình điện thoại, 01 xe mô tô biển kiểm soát 15B1 - 078.19. Xét nghiệm chất ma túy trong nước tiểu của Trần Ánh B cho kết quả dương tính với Methamphetamine.

Khám xét khẩn cấp nơi ở của Trần Ánh B tại số 7/1/2B Phạm Phú Thứ, Hạ Lý, Hồng Bàng, Hải Phòng không phát hiện thu giữ đồ vật, tài liệu gì liên quan.

Tại bản Kết luận giám định số 748/KL-KTHS ngày 23/9/2023 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an thành phố Hải Phòng kết luận: “Tinh thể màu trắng của mẫu QT gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,49gam, loại Methamphetamine”.

Tại Cơ quan điều tra, bước đầu Trần Ánh B khai nhận: Do bản thân nghiện ma túy nên B thường mua ma túy về để sử dụng. Khoảng 12 giờ ngày 20/9/2023, B liên lạc với zalo tên “Nguyen Duoc” (không biết tên tuổi, địa chỉ) hỏi mua 200.000 đồng ma túy đá, “Duoc” đồng ý và hẹn B đến khu dân cư An Trang, An Đồng giao dịch. Tại đây, B chuyển khoản từ số tài khoản ngân hàng Sacombank 060285308693 của B đến số tài khoản của “Duoc” số tiền 200.000 đồng, sau đó “Duoc” chỉ cho B vị trí cất ma túy cách đó khoảng 20m lấy 01 túi nilon chứa ma túy cầm ở tay trái rồi điều khiển xe đi tìm nơi sử dụng thì bị bắt quả tang. Sau đó, B thay đổi lời khai: B đến khu vực nghĩa trang đường mới gần cầu vượt cầu Bính ở An Đồng, An Dương gặp và hỏi mua 200.000 đồng ma túy đá của một người đàn ông không quen biết thì được người này đưa cho 01 vỏ bao thuốc bên trong có 01 túi nilong chứa ma túy đá, B cầm túi ma túy đá trong lòng bàn tay trái rồi điều khiển xe máy đi tìm nơi sử dụng thì bị bắt giữ. B không quen biết người đàn ông bán ma túy cho mình. Mục đích B mua ma túy về để sử dụng cho bản thân. Nguồn gốc số tiền B sử dụng mua ma túy là do lao động mà có.

Tiến hành xác minh và sao kê tài khoản ngân hàng số 060285308693 của Trần Ánh B tại ngân hàng TMCP Sài Gòn thương tín (Sacombank) từ ngày 18/9/2023 đến ngày 21/9/2023 không có giao dịch nào phát sinh.

Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định khôi phục dữ liệu trong điện thoại di động của B thu giữ khi bắt quả tang, tại bản Kết luận giám định số 760/KL-KTHS ngày 20/11/2023 kết luận: “Không trích xuất được dữ liệu trên điện thoại gửi giám định do bị hỏng, không tiến hành truy xuất được dữ liệu trên điện thoại”.

Vật chứng của vụ án:

- Chuyển Chi cục thi hành án dân sự quận Hồng Bàng: 01 phong bì thư dán kín trong chứa số ma túy còn lại sau giám định có dấu niêm phong số 748MT/PC09 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an thành phố Hải Phòng, 01 điện thoại di động điện thoại di động nhãn hiệu Samsung đã qua sử dụng bị nứt vỡ màn hình;

- Đối với chiếc xe mô tô biển kiểm soát 15B1 - 078.19, quá trình điều tra xác định đây là tài sản hợp pháp của chị Trần Thị Kim D (sinh năm 1985, địa chỉ 5C1/2 Phạm Phú Thứ, Hạ Lý, Hồng Bàng, Hải Phòng, là chị gái của B). Ngày 20/09/2023, B tự ý lấy xe sử dụng để đi mua ma túy không nói cho chị Dung biết. Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng, trả lại chiếc xe máy trên cho chị Trần Thị Kim Dung là chủ sở hữu hợp pháp quản lý và sử dụng.

Tại Cáo trạng số 03/CT-VKSHB, ngày 27/12/2023, Viện Kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo Trần Ánh B về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, bị cáo nhận tội, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại giai đoạn điều tra, phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Biên bản khám xét, vật chứng thu giữ, Kết luận giám định và nội dung cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như nội dung bản cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt: Trần Ánh B từ 18 tháng tù đến 21 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 20/9/2023. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu tiêu hủy:

- 01(một) bì giấy nguyên niêm phong chứa mẫu vật còn lại và vỏ bao gói của mẫu QT sau giám định có dấu niêm phong số 748MT/PC09 của Phòng Kỹ thuật hình sự (PC09) - Công an thành phố Hải Phòng;

- 01 điện thoại nhãn hiệu sam sung, màu xanh, nứt vỡ màn hình, không hiển thị được nội dung dữ liệu.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo không có quan điểm tranh luận với đại diện Viện Kiểm sát, phần lời nói sau cùng, bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Hồng Bàng, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố của cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Vì vậy, trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, người chứng kiến vắng mặt đã được Tòa án triệu tập hợp lệ. Xét người này đã có lời khai trong hồ sơ vụ án nên việc vắng mặt tại phiên tòa của người chứng kiến không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án, căn cứ Điều 296 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Tòa án nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng tiến hành xét xử vắng mặt người chứng kiến.

- Về tội danh:

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” như nội dung đã nêu trên. Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người chứng kiến, Biên bản khám xét khẩn cấp, vật chứng thu giữ, Kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở xác định: Do nghiện ma túy nên khoảng 12 giờ ngày 20 tháng 9 năm 2023 tại khu vực trước cửa số 4B Bạch Đằng, phường phường Hạ Lý, quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng, Trần Ánh B có hành vi tàng trữ trái phép 0,49 gam ma túy, loại Methamphetamine với mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị Cơ quan Công an bắt quả tang. Do đó, hành vi trên của bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điều 249 Bộ luật Hình sự.

-Về tình tiết định khung hình phạt:

Bị cáo Trần Ánh B có hành vi tàng trữ 0,49 gam ma túy, loại Methamphetamine với mục đích sử dụng cho bản thân nên hành vi trên của bị cáo bị xét xử theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, vi phạm Luật Phòng, chống ma túy, mà còn là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác gây mất trật tự an toàn xã hội. Đây là tệ nạn xã hội gây tâm lý bức xúc trong quần chúng nhân dân nên phải xem xét, xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật.

- Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt:

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn về hành vi phạm tội của mình, do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo có bố đẻ tham gia kháng chiến và được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng 3 nên bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

- Về hình phạt:

Trên cơ sở đánh giá đầy đủ tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, mục đích của hình phạt, nguyên tắc xử lý đối với người phạm tội. Xét thấy, cần xử phạt bị cáo Trần Ánh B mức án trên khởi điểm của khung hình phạt như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng mới có tác dụng giáo dục bị cáo và đấu tranh phòng ngừa các hành vi vi phạm pháp luật.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng. Xét thấy, bị cáo có công việc, thu nhập không ổn định, không có căn cứ xác định bị cáo có tài sản riêng. Việc bị cáo tàng trữ ma túy với mục đích sử dụng cho bản thân. Do đó, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo như đề nghị của Viện Kiểm sát là có cơ sở.

Về các nội dung khác: Đối với người đàn ông bán ma túy cho Trần Ánh B, quá trình điều tra chưa xác định được lai lịch, địa chỉ nên Cơ quan điều tra Công an quận Hồng Bàng tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau là có căn cứ.

Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra thu giữ số ma túy còn lại sau giám định, cần tịch thu tiêu hủy do là chất cấm và liên quan đến hành vi phạm tội. Đối với 01 điện thoại thu giữ của bị cáo, không có căn cứ xác định bị cáo sử dụng để liên lạc phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo, tuy nhiên do điện thoại trên trong tình trạng nứt vỡ màn hình, không hiển thị được nội dung dữ liệu, bị cáo không có yêu cầu nhận lại nên Hội đồng xét xử cần tuyên tịch thu tiêu hủy.

Về án phí và quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt: Trần Ánh B: 21 (Hai mươi mốt) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, ngày 20/9/2023.

- Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tuyên:

+ Tịch thu tiêu hủy:

- 01(một) bì giấy nguyên niêm phong chứa mẫu vật còn lại và vỏ bao gói của mẫu QT sau giám định có dấu niêm phong số 748MT/PC09 của Phòng Kỹ thuật hình sự (PC09) - Công an thành phố Hải Phòng;

- 01 (một) điện thoại nhãn hiệu sam sung, màu xanh, nứt vỡ màn hình, không hiển thị được nội dung dữ liệu.

(Đặc điểm vật chứng theo Biên bản giao, nhận giữa Công an quận Hồng Bàng và Chi cục Thi hành án dân sự quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng ngày 27/12/2023 tại Chi cục Thi hà nh á n dân sự quận Hồng Bà ng).

- Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2015/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, buộc bị cáo Trần Ánh B phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi bổ sung năm 2014, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

THẨM PHÁN

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Quỳnh Như

Cỡ chữ