- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lường Văn B - Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
- Tòa quyết gì? Áp dụng: Điểm c Khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt: Lường Văn B 01 (một) năm 10 (mười) tháng tháng tù.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự xử phạt; Điều 47 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG ẢNG TỈNH ĐIỆN BIÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 23/2024/HS-ST Ngày: 05-3-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG ẢNG - TỈNH ĐIỆN BIÊN
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Phương
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông: Nguyễn Văn Hùng
2. Ông: Lưu Tuấn Cường
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Lục - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên tham gia phiên tòa: Ông Đào Xuân Kỳ - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 3 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 23/2024/ TLST-HS, ngày 23 tháng 01 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2024/QĐXXST – HS ngày 21 tháng 02 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lường Văn B; Tên gọi khác: Không; sinh năm: 1982 tại huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên; Nơi cư trú: Bản B 2, xã ẲT, huyện MA, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Nông nghiệp; Trình độ văn hóa: 5/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Thái; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Con ông: Lường Văn K(đã chết) và con bà Bạc Thị T, sinh năm 1933; Gia đình bị cáo có 10 anh chị em ruột bị cáo là con thứ mười trong gia đình. Bị cáo có vợ là Lò Thị C, sinh năm 1983 và có 03 người con, con lớn nhất sinh năm 2005, con nhỏ nhất 2013; Tiền sự; Tiền án: Không; Nhân thân: Chưa bị xử lý hành chính; Chưa bị xét xử. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Mường Ảng từ ngày 29/10/2023 cho đến ngày xét xử, bị cáo được trích xuất có mặt tại phiên tòa.
* Người bào chữa cho bị cáo: Bà Cao Thị B– Trợ giúp viên pháp lý; nơi công tác: Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Điện Biên (Có mặt).
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Họ và tên Lò Văn P, sinh năm 1962, nơi cư trú: Bản T, xã ẲT, huyện MA, tỉnh Điện Biên (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, bị cáo Lường Văn B bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên truy tố về hành vi phạm tội như sau:
Khoảng 07 giờ ngày 29/10/2023 Lường Văn B đi làm thuê trồng cây cho gia đình anh Lò Văn P, sinh năm 1962, tại khu vực lán nương thuộc bản T, xã ẲT, huyện MA, tỉnh Điện Biên. Trên đường đi đến bản T, xã ĂT thì Lường Văn B gặp và mua của người đàn ông dân tộc Thái không quen biết được 40 gói Heroine được gói bằng mảnh giấy bạc màu vàng, đựng trong túi nilon màu trắng, một mặt túi màu vàng với giá 500.000 đồng mục đích để sử dụng. Sau khi mua được ma tuý Lường Văn B tiếp tục đi lên lán nương của gia đình anh Lò Văn P, còn người đàn ông dân tộc Thái đi đâu không rõ. Do gia đình anh Lò Văn P không có người ở lán nương nên Lường Văn B đã bỏ 02 gói Heroine ra sử dụng bằng hình thức đốt hít, số còn lại cất giấu để sử dụng dần. Đến 11 giờ 50 phút cùng ngày, Lường Văn B lên cơn nghiện nên đi vào lán nương của gia đình anh Lò Văn P lấy túi ma tuý để trên nền đất phía trước mặt chuẩn bị sử dụng thì bị tổ công tác Công an xã Ẳng Tở vào lán để kiểm tra. Tiến hành kiểm tra tổ công tác phát hiện 01 túi nilon màu trắng, một mặt màu vàng dưới đất phía trước vị trí Lường Văn B đang ngồi. Tổ công tác yêu cầu Lường Văn B nhặt túi nilon lên giao nộp, tiến hành kiểm tra phát hiện bên trong có chứa 38 gói nhỏ Heroine, được gói bằng các mảnh giấy bạc màu vàng, có khối lượng 1,74 gam. Tổ công tác lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng để xác minh làm rõ.
Theo biên bản mở niêm phong, xác định khối lượng, lấy mẫu giám định ngày 29/10/2023 của Công an huyện Mường Ảng và Kết luận giám định số 1550/KL-KTHS, ngày 03 tháng 11 năm 2023 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Điện Biên đã kết luận:
- Khối lượng vật chứng thu giữ của Lường Văn B là: 1,74 gam.
- 38 (ba mươi tám) mẫu chất bột màu trắng ký hiệu theo thứ tự từ M1 đến M38 gửi giám định là chất ma túy: Loại Heroine.
Tại bản cáo trạng số: 04/CT-VKSMA ngày 22/01/2024 của Viện kiểm sát nhân dân Huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên đã truy tố ra trước Toà án nhân dân huyện Mường Ảng để xét xử bị cáo Lường Văn B về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.
Tại phiên toà, vị đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Lường Văn B. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS. Xử phạt Lường Văn B từ 01 năm 06 tháng đến 01 năm 10 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
* Về vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS. Đề nghị Hội đồng xét xử: Tịch thu để tiêu hủy 0,684 gam Heroine là vật chứng còn lại của vụ án sau khi lấy mẫu giám định, 01 túi nilon màu trắng, một mặt màu vàng, 38 mảnh giấy bạc màu vàng.
* Án phí: Bị cáo Lường Văn B là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và có đơn xin miễn án phí. Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS năm 2015; điểm đ khoản 1 điều 12 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Miễn án phí HSST cho bị cáo.
Nội dung bản luận cứ của người bào chữa cho bị cáo Lường Văn B nhất trí với nội dung cáo trạng đã truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS; Bản thân bị cáo là người dân tộc thiểu số, nhận thức pháp luật còn hạn chế, quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo được qui định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS, đề nghị Hội đồng xét xử khi quyết định hình phạt xem xét cho bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp nhất theo đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát. Bị cáo là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và có đơn xin miễn án phí, hoàn cảnh kinh tế gia đình bị cáo khó khăn, đề nghị Hội đồng xét xử miễn toàn bộ án phí HSST cho bị cáo và không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Bị cáo Lường Văn B thừa nhận toàn bộ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy như cáo trạng truy tố. Bị cáo nhất trí nội dung bản Cáo trạng cũng như bản luận tội của VKSND huyện Mường Ảng, nội dung bản luận cứ bào chữa cho bị cáo, bị cáo không có tranh luận gì.
Bị cáo nói lời sau cùng trước khi nghị án: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án và đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Nội dung vụ án:
Qua phần tranh tụng công khai tại phiên tòa bị cáo Lường Văn B đã khai và công nhận: Hồi 11 giờ 50 phút, ngày 29/10/2023, tại lán nương của Lò Văn P, sinh năm 1962, thuộc bản T, xã ẲT, huyện MA, tỉnh Điện Biên Lường Văn B bị bắt quả tang đang tàng trữ trái phép 1,74 gam Heroine, mục đích của bị cáo tàng trữ ma túy để sử dụng cho bản thân. Lời khai nhận tội của bị cáo trước phiên tòa ngày hôm nay phù hợp với các tài liệu và chứng cứ có trong hồ sơ, cũng như cáo trạng số 04/CT-VKS-MA, ngày 22/01/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Ảng đã truy tố.
Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội; Bị cáo tàng trữ trái phép 1,74 gam Heroine đủ định lượng buộc bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.
Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi phạm tội của mình là nguy hiểm cho xã hội nhưng vẫn thực hiện. Do vậy Hội đồng xét xử có đủ căn cứ pháp lý để xét xử bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Tại khoản 1 Điều 249 BLHS quy định: “Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
…c) Heroine... có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 5 gam”.
[2] Xét về tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm: Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp tội phạm nghiêm trọng, gây nguy hại lớn cho xã hội có mức cao nhất của khung hình phạt đến 5 năm tù, được quy định tại khoản 1 Điều 9 Bộ luật hình sự năm 2015. Vì vậy bị cáo phải chịu hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội đã gây ra.
[3] Xét về hậu quả của hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra: Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó đã xâm phạm trực tiếp đến sự độc quyền của nhà nước trong lĩnh vực quản lý và sử dụng các chất ma túy, đã tiếp tay cho các loại tội phạm gia tăng, ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an trên địa bàn, cần phải được xử lý nghiêm.
. Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo: Bị cáo được bố mẹ nuôi cho ăn học hết lớp 5/12 thì nghỉ học ở nhà lao động sản xuất cùng gia đình. Bản thân bị cáo không có tiền án, tiền sự. Bị cáo nhận thức rõ việc tàng trữ, mua bán ma túy là vi phạm pháp luật, bị cáo vẫn cố ý mua và tàng trữ trái phép chất ma túy với mục đích để sử dụng. Vì vậy, cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để cải tạo bị cáo trở thành người có ích cho gia đình và xã hội; tuy nhiên, tại phiên tòa cũng như trong quá trình điều tra, bị cáo đã thành khẩn khai báo thể hiện sự ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của mình, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS nên khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử cần xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS năm 2015 cho bị cáo. Bị cáo không phạm tình tiết tăng nặng nào qui định tại Điều 52 BLHS.
Bị cáo với nghề nghiệp làm nông nghiệp, gia đình bị cáo khó khăn về kinh tế. Do vậy Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Đối với người đàn ông dân tộc Thái đã bán Heroine cho bị cáo, không rõ nhân thân, lai lịch, nên không có căn cứ xử lý.
- Đối với Lò Văn P, qua điều tra không liên quan đến vụ án, nên không đề cập xử lý.
Về vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS. Đề nghị Hội đồng xét xử: Tịch thu để tiêu hủy 0,684 gam Heroine là vật chứng còn lại của vụ án sau khi lấy mẫu giám định, 01 túi nilon màu trắng, một mặt màu vàng, 38 mảnh giấy bạc màu vàng.
Về án phí: Bị cáo Lường Văn B là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và có đơn xin miễn án phí. Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS năm 2015; điểm đ khoản 1 điều 12 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Miễn án phí HSST cho bị cáo.
. Căn cứ Điều 331, Điều 333 BLTTHS: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
[9] Quyết định truy tố của VKSND huyện Mường Ảng; ý kiến của vị đại diện VKS, ý kiến của bị cáo, người bào chữa cho bị cáo qua phần tranh tụng công khai tại phiên tòa về tội danh, hình phạt và các vấn đề khác liên quan đến vụ án. Hội đồng xét xử thấy phù hợp với nội dung vụ án và nhận định của Hội đồng xét xử nên cần chấp nhận.
[10] Trong quá trình điều tra, truy tố: Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng qui định của Bộ luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS. Tuyên bố: Bị cáo Lường Văn B phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
Áp dụng: Điểm c Khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt: Lường Văn B 01 (một) năm 10 (mười) tháng tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 29 tháng 10 năm 2023.
2. Vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS. Tịch thu để tiêu hủy 0,684 gam Heroine là vật chứng còn lại của vụ án sau khi lấy mẫu giám định, 01 túi nilon màu trắng, một mặt màu vàng, 38 mảnh giấy bạc màu vàng.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện Mường Ảng và Chi Cục thi hành án dân sự huyện Mường Ảng lập ngày 23/01/2024).
3. Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS, điểm đ khoản 1 điều 12 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Miễn án phí HSST cho bị cáo.
4. Về quyền kháng cáo đối với bản án: Căn cứ Điều 331, Điều 333 BLTTHS:
- Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 05/3/2024).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án tại UBND cấp xã nơi cư trú.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Điện Biên - VKSND tỉnh Điện Biên - Sở Tư pháp tỉnh Điện Biên. - VKSND h.Mường Ảng - Công an h.Mường Ảng - Chi cục THADS h.Mường Ảng - Bị cáo; Người bào chữa cho bị cáo - Người có QLNVLQ - Lưu hồ sơ. | T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (đã ký) Nguyễn Văn Phương |