- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phan Đức C - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phan Đức C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOA LƯ TỈNH NINH BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 23/2024/HS-ST Ngày: 09 - 5 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOA LƯ - NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đào Thị Huệ.
Các hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Luận
Bà Lê Thị Lý
- Thư ký phiên toà: Bà Giang Thị Mến - Thư ký Toà án nhân dân huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Thùy - Kiểm sát viên.
Ngày 09/5/2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình mở phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 19/2024/TLST-HS ngày 26/3 /2024. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 22/2024/QĐXXST-HS ngày 26/4/2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Phan Đức C, sinh năm 1995, tại Ninh Bình; giới tính: nam; nơi cư trú: thôn B, xã N, thành phố N, tỉnh Ninh Bình; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; trình độ văn hoá 1/12; nghề nghiệp: lao động tự do; con ông Phan Thanh B và bà Nguyễn Thị H (đều đã chết); vợ, con chưa có; tiền án, tiền sự: không; nhân thân:
- Bản án số 175/2019/HSST ngày 27/12/2019 của TAND thành phố Ninh Bình, xử phạt 17 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong hình phạt hình phạt tù ngày 25/12/2020; Chấp hành xong án phí HSST ngày 11/02/2020.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 27/01/2024 đến ngày 04/02/2024 chuyển tạm giam, hiện đang tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh Ninh Bình cho đến nay (bị cáo có mặt tại phiên tòa).
Người làm chứng: anh Trần Văn Tr, sinh năm 1962 (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- 1 -
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Phan Đức C là người nghiện ma túy, khoảng 20 giờ ngày 26/01/2024 do có nhu cầu sử dụng ma túy nên C đi bộ từ nhà ra trục đường thôn B, xã N, thành phố N thuê xe ôm của một người không quen biết đi sang khu vực đầu cầu Non Nước thuộc địa phận xã Yên Bằng, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định với mục đích mua ma túy về để sử dụng cho bản thân. Đến nơi, C xuống xe đi bộ vào ven đường đê khoảng 50m thì gặp một người đàn ông trông giống người nghiện ma túy, C hỏi “Có ma túy đá bán không” người đàn ông trả lời “Có” C nói “Bán cho năm trăm nghìn”, người này đưa cho C 02 túi nilon màu trắng bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng, C cầm và đưa cho người đàn ông 500.000 đồng. Mua được ma túy C cất vào túi áo khoác phía trước bên trái đang mặc rồi đi bộ quay lại khu vực cầu Non Nước thuê xe ôm đi về nhà nghỉ Thắng Lợi thuộc phố Mỹ Lộ, thị trấn Thiên Tôn, huyện Hoa Lư để sử dụng. Khi đến gần cổng nhà nghỉ Thắng Lợi, C xuống xe đi bộ vào nhà nghỉ thì bị tổ công tác Công an xã Ninh Mỹ phối hợp với Công an thị trấn Thiên Tôn phát hiện C có biểu hiện nghi vấn nên đã yêu cầu kiểm tra hành chính. Thấy vậy C đã tự giác lấy 02 túi ni lon màu trắng túi thứ nhất có đặc điểm là túi nilon màu trắng kích thước (4 x4,7) cm, túi thứ hai có đặc điểm là túi nilon màu trắng kích thước (5x7) cm, cả hai túi đều chứa chất tinh thể màu trắng từ trong túi áo khoác phía trước bên trái ra giao nộp cho Tổ công tác và khai nhận đó là ma túy đá mua về để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã niêm phong theo quy định, đồng thời đưa C cùng tang vật và mời người làm chứng về Công an thị trấn Thiên Tôn lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hoa Lư đã tiến hành mở niêm phong cân xác định khối lượng chất tinh thể màu trắng trong hai túi nilon thu của Phan Đức C có tổng khối lượng 0,29 gam, cụ thể: túi thứ nhất có khối lượng 0,17 gam, ký hiệu M1; túi thứ hai có khối lượng 0,12 gam, ký hiệu M2 gửi đi giám định
Tại bản kết luận giám định số 235/KLGĐ-PC09-MT ngày 03/02/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình kết luận:
-Mẫu gửi giám định ký hiệu M1 có khối lượng là 0,1689 gam, ký hiệu M2 có khối lượng là 0.1245 gam. Tổng khối lượng hai mẫu ký hiệu M1, M2 là 0,2934 gam, Mẫu gửi giám định ký hiệu M1, M2 đều là ma túy, loại Methamphetamine
- 2 -
Methamphetamine là chất ma túy thuộc Danh mục IIC, số thứ tự 247; Nghị định số 57/2002/NĐ – CP ngày 25/8/2002 của Chính phủ
Quá trình điều tra Phan Đức C đã thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của mình.
Tại bản Cáo trạng số 18/CT-VKSHL ngày 25/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoa Lư truy tố bị cáo Phan Đức C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoa Lư giữ quyền công tố tại phiên toà vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử như sau:
[1]. Về trách nhiệm hình sự: Đề nghị tuyên bố bị cáo Phan Đức C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Bộ luật hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Phan Đức C từ 18 đến 24 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù kể từ ngày tạm giữ 27/01/2024.
Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung.
[2]. Về xử lý vật chứng: áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy số ma túy gồm M1 = 0,1060 gam, M2 = 0,0701 gam là ma túy, loại methamphetamin, toàn bộ vỏ bao gói niêm phong, vỏ bao gói niêm phong ban đầu.
Tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoa Lư.
Lời nói sau cùng của bị cáo rất ân hận về hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:
. Về hành vi của bị cáo: tại phiên tòa bị cáo Phan Đức C đã khai nhận như sau: vì muốn có ma túy để sử dụng nên khoảng 20 giờ ngày 26/01/2024 Phan Đức C đã thuê xe ôm sang khu vực cầu Non Nước thuộc xã Yên Bằng, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định mua của một người đàn ông không quen biết 0,2934 gam ma túy loại methamphetamine với giá 500.000 đồng để sử dụng cho bản thân nhưng chưa kịp sử dụng thì khoảng 21 giờ cùng ngày tại khu vực phố Mỹ Lộ, thị trấn Thiên Tôn, huyện Hoa Lư. Tổ công tác Công an
- 3 -
xã Ninh Mỹ phối hợp với Công an thị trấn Thiên Tôn đang làm nhiệm vụ phát hiện bắt quả tang.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng; phù hợp với bản kết luận giám định số số 235/KLGĐ-PC09-MT ngày 03/02/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Ninh Bình và các chứng cứ, tài liệu có liên quan khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Đủ cơ sở pháp lý khẳng định bị cáo có hành vi cất dấu 0,2934 gam ma túy, loại Methamphetamine để sử dụng cho bản thân nhưng chưa kịp sử dụng thì bị phát hiện. Theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự thì:
1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma tuý mà không nhằm mục đích bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
a,................
b, ...............
c, Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR -11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
d, ...........................
2...
Như vậy, hành vi nêu trên của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự, tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoa Lư giữ nguyên quan điểm đã truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi nêu trên của bị cáo là cố ý và gây nguy hiểm cho xã hội. Trực tiếp xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về việc quản lý các chất ma túy. Bản thân bị cáo là người đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự nhận thức rõ hành vi mua bán trái phép chất ma túy của mình bị Nhà nước cấm. Bị cáo nhận thức được nghiện ma túy là tệ nạn xã hội nguy hiểm mà cộng đồng đang ra sức lên án và loại trừ bởi ma túy ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của người sử dụng, ảnh hưởng đến kinh tế, sự phát triển nòi giống, phá hoại hạnh phúc gia đình và là con đường lây nhiễm HIV phổ biến nhất hiện nay, đồng thời gây mất trật tự an toàn xã hội, làm gia tăng các tệ nạn xã hội như: Lừa đảo, trộm cắp…Nhận thức được hành vi mua bán ma túy bị pháp luật cấm và tác hại to lớn của ma túy như vậy nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện điều đó, chứng tỏ bị cáo có ý thức coi thường pháp luật.
- 4 -
. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của mình; khi bị yêu cầu kiểm tra đã tự giác giao nộp ma túy đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
. Về hình phạt: từ sự phân tích về tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra, nhân thân bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Hội đồng xét xử xét thấy các hình phạt và biện pháp giáo dục khác không có tác dụng răn đe, phòng ngừa nên cần áp dụng loại hình phạt tù có thời hạn cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội của bị cáo.
. Về các vấn đề khác:
Đối với người xe ôm chở C đi mua ma túy và người xe ôm chở C về nhà nghỉ Thắng Lợi, C không biết tên, tuổi, địa chỉ nên không có cơ sở để xác minh làm rõ
Về nguồn gốc số Methamphetamine, Phan Đức C khai mua của một người đàn ông không quen biết tại khu vực xã Yên Bằng, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định nên không có cơ sở để điều tra làm rõ.
Về hình phạt bổ sung: tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.” Tuy nhiên, bị cáo mua ma túy để sử dụng cho bản thân, không nhằm mục đích kiếm lời nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp.
. Về xử lý vật chứng và tài sản thu giữ:
- Đối với số ma túy M1 = 0,1060 gam, M2 = 0,0701 gam là ma túy, loại methamphetamin là vật chứng còn lại thu giữ của Phan Đức C là vật Nhà nước cấm lưu hành cần tịch thu để tiêu hủy.
- 01 phong bì niêm phong, trên mặt phong bì có ghi: Mẫu vật còn lại thu giữ của Phan Đức C, sinh năm 1995, trú tại thôn Bình Khê, xã Ninh Nhất, thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình ngày 26/01/2024 và toàn bộ phong bì niêm phong, vỏ gói ban đầu không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
. Về án phí hình sự sơ thẩm: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1
- 5 -
Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Hoa Lư, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoa Lư, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố bị cáo Phan Đức C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Phan Đức C 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 27/01/2024.
2. Về xử lý vật chứng: áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy số ma túy gồm M1 = 0,1060 gam, M2 = 0,0701 gam là ma túy, loại methamphetamin là vật chứng còn lại thu giữ của Phan Đức C cùng toàn bộ phong bì niêm phong, vỏ gói ban đầu.
(Đặc điểm các vật chứng như biên bản giao vật chứng giữa công an huyện Hoa Lư và chi cục thi hành án huyện Hoa Lư ngày 26/3/2024).
3. Về án phí: Áp dụng: khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).
4. Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
- 6 -
| Nơi nhận: - TAND tỉnh NB; - VKSND huyện HL; - THADS huyện HL; - CA huyện HL; - Những người TGTT; - Lưu./. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Đã ký Đào Thị Huệ - 7 - |