- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Mỹ Trang- Trần Văn Chuẩn"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn;
- Căn cứ chính? Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI ÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 23/2024/HNGĐ-ST Ngày 29-01-2024 V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI ÂN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thanh Tâm.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Bùi Thị Mỹ Hòa;
Bà Trần Thị Mỹ Hậu.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Y Hải - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Ông Trần Đức Vũ - Kiểm sát viên. Ngày 29/01/2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 253/2023/TLST-HNGĐ ngày 13/12/2023, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 03/01/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 02/2024/QĐST-HN ngày 11/01/2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Mỹ T, sinh năm 1995;
Địa chỉ: Thôn G, xã Â, huyện H, tỉnh Bình Định. Có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Ông Trần Văn C, sinh năm 1991;
Địa chỉ: Thôn G, xã Â, huyện H, tỉnh Bình Định. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 05/12/2023 và các lời khai tại Tòa án, nguyên đơn bà Nuyễn Thị Mỹ T1 trình bày:
Về hôn nhân: Bà và ông Trần Văn C có thời gian tìm hiểu khoảng 02 năm rồi đi đến hôn nhân, có đăng ký kết hồn vào ngày 24/06/2015 tại UBND xã tại Ủy ban nhân dân xã Â1, huyện H, tỉnh Bình Định. Sau khi kết hôn vợ, chồng bà sống ở nhà ba, mẹ chồng tại thôn G, Xã Â, huyện H. Cuộc sống vợ chồng sau hôn nhân hạnh phúc và có với nhau 02 con chung. Mâu thuẫn của vợ chồng bà phát sinh đã lâu do ông C ngoại tình với người phụ nữ khác bên ngoài và hay đánh bài, chơi số đề không lo làm ăn, không chịu cùng bà chăm sóc con cái và chăm lo cho gia đình. Đã rất nhiều lần bà khuyên nhủ chồng thay đổi và cũng đã tha thứ cho ông C nhiều lần, nhưng ông C vẫn không chịu sửa đổi những tính xấu của mình để cùng bà tiếp tục xây dựng gia đình. Đỉnh điểm mâu thuẫn của vợ chồng là vào 06 tháng trước, hai vợ chồng cãi nhau lớn tiếng nên bà đã về nhà mẹ đẻ tại thôn A, Â, H sống từ đó đến nay. Nay bà xét thấy mâu thuẫn của vợ chồng rất trầm trọng, không còn tìm được tiếng nói chung, tình cảm vợ chồng không còn, vợ chồng không còn quan tâm, yêu thương đến nhau nên bà yêu cầu được ly hôn với ông Trần Văn C.
Về con chung: Hai vợ chồng có 02 con chung tên Trần Duy Đ, sinh ngày: 04/7/2016 và Trần Duy K, sinh ngày: 26/7/2020. Hai cháu Đ và K hiện tại đang được bà trực tiếp nuôi dưỡng. Bà yêu cầu được nuôi 02 con chung. Về cấp dưỡng nuôi con: Bà không yêu cầu ông C cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án xem xét.
Ngày 05/01/2024, bà Nguyễn Thị Mỹ T có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết, xét xử vắng mặt.
Đối với bị đơn Trần Văn C: Kể từ ngày thụ lý vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập hợp lệ ông N đến làm việc nhưng ông C vẫn không đến Tòa án làm việc; Tòa án đã thực hiện việc tống đạt, niêm yết công khai các thủ tục tố tụng, thông báo phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải, nhưng ông C cũng không đến tham gia. Do đó, Tòa án không ghi nhận được ý kiến và yêu cầu của ông C đối với yêu cầu khởi kiện của bà H.
Đại diện Viện kiểm sát huyện H, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình thụ lý vụ án đến khi mở phiên tòa, thẩm phán xác định đúng quan hệ pháp luật, đúng tư cách người tham gia tố tụng; tổ chức phiên họp kiểm tra, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải đúng qui định. Tại phiên tòa HĐXX thực hiện việc xét xử công khai; nguyên đơn có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt lần thư 2 không có lý do; nên HĐXX tiến hành xét xử vụ án là đảm bảo theo quy định tại Điều 238 của Bộ luật TTDS.
Về hôn nhân: Xét thấy, tình cảm vợ chồng bà Nguyễn Thị Mỹ T và ông Trần Văn C không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, cho bà Nguyễn Thị Mỹ T được ly hôn ông Trần Văn C.
Về con chung: Giao 02 con chung tên Trần Duy Đ, sinh ngày: 04/7/2016 và Trần Duy K, sinh ngày: 26/7/2020 cho bà T nuôi dưỡng; Công nhận sự tự nguyện không yêu cầu cấp dưỡng của bà T.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà T không yêu cầu nên không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Bà Nguyễn Thị Mỹ T có đơn yêu cầu ly hôn ông Trần Văn C, yêu cầu được nuôi con chung đây là vụ án Hôn nhân và gia đình về việc ly hôn, tranh chấp nuôi con được quy định tại Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Bị đơn ông Trần Văn C có đăng kí thường trú tại xã Â, huyện H, tỉnh Bình Định. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hoài Ân. Nguyên đơn có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt lần 2 không lý do. Nên HĐXX tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại Điều 238 của Bộ luật tố tụng Dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời khai của đương sự, thể hiện bà Nguyễn Thị Mỹ T và ông Trần Văn C có thời gian tìm hiểu và kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Â1, huyện H, tỉnh Bình Định vào ngày 24 tháng 6 năm 2015 nên hôn nhân của vợ chồng ông bà là hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do ông C ngoại tình với người phụ nữ khác bên ngoài và hay đánh bài, chơi số đề không lo làm ăn, không chịu cùng bà T chăm sóc con cái và chăm lo cho gia. Giữa hai vợ chồng không còn tình cảm, không còn quan tâm đến nhau. Vào 06 tháng trước, hai vợ chồng cãi nhau và bà T đã về nhà mẹ đẻ tại A, Â, Hoài  sống từ đó đến nay. Nay bà Nguyễn Thị Mỹ T yêu cầu giải quyết cho bà và ông C được ly hôn. Xét thấy, tình cảm vợ chồng bà T và ông C mâu thuẫn đã đến mức trầm trọng, cho dù có kéo dài cuộc sống vợ chồng cũng không hạnh phúc và thực tế họ đã không còn sống chung với nhau, nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn là phù hợp với quy định tại các Điều 51 và 56 Luật Hôn nhân và Gia đình.
Về con chung: Bà Nguyễn Thị Mỹ T và ông Trần Văn C có 02 con chung tên Trần Duy Đ, sinh ngày: 04/7/2016 và Trần Duy K, sinh ngày: 26/7/2020. Xét thấy 02 con chung của bà T và ông C, lâu nay do bà T nuôi dưỡng, cháu Đ trên 07 tuổi có nguyện vọng ở với mẹ. Do vậy, cần giao 02 con chung cho bà T nuôi dưỡng là đúng quy định của pháp luật.
Về cấp dưỡng nuôi con: Bà T không yêu cầu nên không xem xét.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà T không yêu cầu nên không xem xét
Đối với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Ân là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Về án phí: Bà Nguyễn Thị Mỹ T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238 và khoản 1 Điều 273 Bộ Luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào các Điều 51, 56, Điều 81,82,83,84 của Luật Hôn nhân và Gia đình;
Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn;
Bà Nguyễn Thị Mỹ T được ly hôn với ông Trần Văn C.
2. Về con chung: Giao 02 con chung tên Trần Duy Đ, sinh ngày: 04/7/2016 và Trần Duy K, sinh ngày: 26/7/2020 cho bà Nguyễn Thị Mỹ T trực tiếp nuôi dưỡng, ông C được quyền đi lại, thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được ngăn cản.
Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì lợi ích của con, các bên: Người thân thích của con; Cơ quan quản lý Nhà nước về gia đình; Cơ quan quản lý Nhà nước về trẻ em; Hội liên hiệp phụ nữ có quyền yêu cầu Tòa án ra quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.
3. Về cấp dưỡng nuôi con: Không xem xét.
4. Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét.
5. Về án phí: Án phí ly hôn sơ thẩm, bà Nguyễn Thị Mỹ T phải nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0004536, ngày 27/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hoài Ân.
6. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận bản án hoặc kể từ ngày được niêm yết bản án theo quy định, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định xét xử phúc thẩm. Nôi nhaän:
TM. HOÄI ÑOÀNG XEÙT XÖÛ SÔ THAÅM
- VKSND huyeän Hoài Ân;
Thaåm phaùn - Chuû toïa phieân tòa
- Chi cục THA daân söï H. H;
- Các đương sự;
- UBND xã Â1;
- Löu hoà sô vụ án.
Trần Thanh Tâm