- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Đào Kim T khởi kiện xin ly hôn đối với anh Võ Minh Tr"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của nguyên đơn chị Đào Kim T đối với bị đơn anh Võ Minh Tr
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH KIÊN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 23/2024/HNGĐ-ST Ngày: 06/5/2024 V/v “Xin ly hôn và nuôi con chung” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Mai Tấn Đẩu
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Duy Khƣơng
Ông Trần Minh Nhựt
- Thư ký phiên Tòa: Ông Nguyễn Chí Thăng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Nam – Kiểm Sát viên.
Ngày 06 tháng 5 năm 2024, Tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 03/2024/TLST- HNGĐ, ngày 08 tháng 01 năm 2024, về việc “Xin ly hôn và nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2024/QĐXXST- HNGĐ, ngày 28 tháng 03 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 17/2024/QĐST-HNGĐ ngày 15 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Đào Kim T, sinh năm 1989. (Có mặt)
Nơi cư trú: ấp TN, xã TY, huyện AB, tỉnh KG
2. Bị đơn: Anh Võ Minh Tr, sinh năm 1988
Nơi cư trú: ấp HA, xã MT, huyện CT, tỉnh KG
(Anh Tr được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Nguyên đơn chị Đào Kim T trình bày: Vào năm 2010, chị và anh Võ Minh Tr quen nhau và có làm lễ cưới sau đó đăng ký kết hôn tại UBND xã MT, huyện CT, tỉnh KG. Thời gian đầu chúng tôi chung sống rất hòa thuận, hạnh phúc và có 02 người con chung Võ Kim T, sinh ngày 04/6/2011 và Võ Thùy D, sinh ngày 17/8/2019 nhưng đến khoảng thời gian gần đây thì giữa anh chị xảy ra nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm và anh chị đã nhiều lần cố gắng hàn gắn nhưng vẫn mâu thuẫn nhau. Chị và anh Tr đã sống ly thân từ tháng 8 năm 2023 cho đến nay. Nay chị cảm thấy tình cảm vợ chồng không còn nên chị khởi kiện xin ly hôn.
Tại phiên tòa chị Đào Kim T có yêu cầu như sau:
- Về hôn nhân: xin được ly hôn với anh Võ Minh Tr
- Về việc nuôi con chung: Yêu cầu được nuôi dưỡng 02 người con chung Võ Kim T, sinh ngày 04/6/2011 và Võ Thùy D, sinh ngày 17/8/2019. Không yêu cầu anh Tr phải cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Bị đơn anh Võ Minh Tr: Tr quá trình giải quyết vụ án anh Tr đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án. Nhưng qua thời gian luật định anh Tr vẫn không có văn bản tự khai và cũng không có ý kiến gì gửi đến Tòa án. Sau đó, Tòa án tiếp tục tống đạt cũng như niêm yết nhiều lần thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo quy định pháp luật nhưng anh Tr vẫn vắng mặt không có lý do nên không có ý kiến trình bày. Do đó, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có Tr hồ sơ Tòa án tiến hành giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, sự tuân theo pháp luật của những người tham gia tố tụng và ý kiến về việc giải quyết vụ án:
Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký thực hiện đúng quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Thời hạn chuẩn bị xét xử và quyết định đưa vụ án ra xét xử là đúng quy định tại Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung vụ án:
- Về hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận T bộ yêu cầu khởi kiện của chị Đào Kim T, cho chị Đào Kim T được ly hôn với anh Võ Minh Tr.
- Về con chung: Giao 02 người con chung Võ Kim T, sinh ngày 04/6/2011 và Võ Thùy D, sinh ngày 17/8/2019 cho chị Đào Kim T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh Võ Minh Tr có quyền thăm nom, chăm sóc các con mà không ai có quyền cản trở.
- Về tài sản chung và nợ chung: Chị Đào Kim T xác định là không có nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có Tr hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Đào Kim T thực hiện quyền khởi kiện theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự là thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang.
- Về quan hệ pháp luật tranh chấp, nguyên đơn chị Đào Kim T yêu cầu ly hôn với bị đơn anh Võ Minh Tr và yêu cầu được nuôi dưỡng 02 người con chung Võ Kim T, sinh ngày 04/6/2011 và Võ Thùy D, sinh ngày 17/8/2019, không yêu cầu anh Tr phải cấp dưỡng nuôi con chung. Nên quan hệ pháp luật tranh chấp được xác định Tr vụ án là “Xin ly hôn và nuôi con chung”.
- Về sự có mặt của các đương sự: Bị đơn anh Võ Minh Tr đã được Tòa án triệu tập, tống đạt xét xử hợp lệ, đúng theo quy định pháp luật nhưng anh Tr vẫn vắng mặt không có lý do. Tại phiên tòa, nguyên đơn chị Đào Kim T thống nhất yêu cầu xét xử vắng mặt anh Tr. Căn cứ vào Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, HĐXX quyết định xét xử vắng mặt bị đơn anh Võ Minh Tr theo quy định pháp luật.
- Về nội dung: Chị Đào Kim T và anh Võ Minh Tr chung sống với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân phường MT, huyện CT, tỉnh KG cấp giấy chứng nhận kết hôn nên hôn nhân của anh chị là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận.
Xét yêu cầu khởi kiện của chị Đào Kim T yêu cầu ly hôn với anh Võ Minh Tr: HĐXX xét thấy Tr quá trình giải quyết vụ án chị Đào Kim T xác nhận, sau khi kết hôn thì giữa chị và anh Võ Minh Tr chung sống rất hạnh phúc nhưng đến thời gian gần đây thì giữa chị và anh Tr hay xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh bất đồng quan điểm thường hay cự cải nhau nên anh chị đã sống ly thân với nhau từ tháng 8 năm 2023 cho đến nay. Đối với anh Võ Minh Tr mặc dù Tòa án đã nhiều lần tống đạt thông báo hòa giải để mở phiên hòa giải nhằm mục đích động viên chị T và anh Tr có cơ hội hàn gắn đoàn tụ nhưng anh Võ Minh Tr vẫn vắng mặt nhiều lần không lý do nên Tòa án không tiến hành hòa giải được. Đồng thời, Tòa án đã triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để anh Võ Minh Tr có mặt tham gia phiên tòa nhưng anh Tr vẫn vắng mặt, chứng tỏ anh Tr không muốn hòa giải đoàn tụ với chị T. Tại phiên toà, chị Đào Kim T vẫn cương quyết xin được ly hôn với anh Võ Minh Tr và trên thực tế anh chị đã ly thân với nhau từ tháng 8 năm 2023 cho đến nay. HĐXX xét thấy, mâu thuẫn về hôn nhân giữa chị Đào Kim T và anh Võ Minh Tr đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống vợ chồng không thể kéo dài. Do đó, xét thấy việc chị Đào Kim T xin được ly hôn đối với anh Võ Minh Tr là có căn cứ phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 nên HĐXX chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Đào Kim T đối với anh Võ Minh Tr.
Về con chung: Chị Đào Kim T xác nhận Tr quá trình chung sống vợ chồng chị có 02 người con chung Võ Kim T, sinh ngày 04/6/2011 và Võ Thùy D, sinh ngày 17/8/2019, hiện đang sống cùng chị Đào Kim T. Nay chị yêu cầu được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng và không yêu cầu anh Võ Minh Tr cấp dưỡng nuôi con. HĐXX nhận thấy kể từ sau khi anh chị sống ly thân cho đến nay chị T là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu T và cháu D. Chị vẫn chăm sóc tốt cho các cháu nên HĐXX giao các cháu Võ Kim T, sinh ngày 04/6/2011 và Võ Thùy D, sinh ngày 17/8/2019 cho chị T tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng để không làm thay đổi môi trường sinh sống của cháu và phù hợp theo nguyện vọng của các cháu là phù hợp với quy định của pháp luật.
Anh Võ Minh Trrong có quyền, nghĩa vụ thăm nom chăm sóc con mà không ai được cản trở.
Về việc cấp dưỡng nuôi con do chị Đào Kim T không yêu cầu anh Võ Minh Tr cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
- Về tài sản chung và nợ chung: Tr quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã triệu tập anh Võ Minh Tr đúng theo quy định pháp luật nhưng anh Tr vẫn vắng mặt không lý do nên Toà án không tiến hành hoà giải, đối chất để xác định về tài sản chung cũng như nợ chung giữa anh chị được. Mặt khác, tại phiên toà chị Đào Kim T khẳng định anh chị không tạo lập được tài sản gì chung và cũng không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, về phần tài sản chung và nợ chung HĐXX không xem xét nếu sau này anh chị hoặc cơ quan tổ chức, cá nhân nào khác có yêu cầu về phần tài sản chung và nợ chung thì các đương sự có quyền khởi kiện bằng vụ án khác theo quy định pháp luật.
- Xét quan điểm và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có cơ sở và phù hợp với quy định của pháp luật như đã phân tích nêu trên nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
- Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Buộc chị Đào Kim T phải chịu 300.000 đồng T án phí nhưng chị được khấu trừ số T 300.000 đồng đã tạm ứng án phí sơ thẩm theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0001269 ngày 04/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ vào Điều 53; Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của nguyên đơn chị Đào Kim T đối với bị đơn anh Võ Minh Tr
1. Về quan hệ hôn nhân: Nguyên đơn chị Đào Kim T được ly hôn với bị đơn anh Võ Minh Tr.
2. Về quan hệ con chung: Giao 02 người con chung là Võ Kim T, sinh ngày 04/6/2011 và Võ Thùy D, sinh ngày 17/8/2019 cho chị Đào Kim T tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng. Chị Đào Kim T không yêu cầu anh Võ Minh Tr cấp dưỡng nuôi con. Anh Võ Minh Tr không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Anh Võ Minh Tr có quyền, nghĩa vụ thăm nom chăm sóc con mà không ai được cản trở.
3. Về tài sản chung: Chị Đào Kim T xác định là không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết, do đó Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
4. Về nợ chung: Chị Đào Kim T xác định là không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, do đó Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
5. Về án phí: Chị Đào Kim T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm với số T là 300.000 đồng nhưng được khấu trừ vào 300.000 đồng T tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0001269 ngày 04/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang.
6. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án Tr thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án Tr thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - TAND tỉnh Kiên Giang; - VKSND huyện Châu Thành; - THADS huyện Châu Thành; - UBND xã Mong Thọ; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Mai Tấn Đẩu |