vanban.org

Bản án 23/2024/HN-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Lê Thúy K.

Cụ thể tuyên: Chị Lê Thúy K và anh Huỳnh Văn S thuận tình ly hôn. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "LÊ THÚY K-HUỲNH VĂN S"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Lê Thúy K.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MỎ CÀY NAM
TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 23/2024/HN-ST
Ngày: 04/03/2024.
V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY NAM - TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Yến

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Trần Thị Sẫm

2. Bà Mai Thị Nhặc

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoàng Thu Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Diệu – Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 03 năm 2024, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 12/2024/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 01 năm 2024 về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 48/2024/QĐXX-ST ngày 22 tháng 02 năm 2024, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Lê Thúy K, sinh năm 1989; (Xin vắng mặt)

Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

2. Bị đơn: Anh Huỳnh Văn S, sinh năm 1985; (Xin vắng mặt)

Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nội dung đơn khởi kiện, bản tự khai, trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Lê Thúy K trình bày:

Về hôn nhân: Chị và anh S tự nguyện tìm hiểu và tiến tới hôn nhân năm 2008, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện M. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2011 thì vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cải vã, cuộc sống giữa vợ chồng không còn hạnh phúc. Vợ chồng ly thân từ năm 2011 đến nay. Trong thời gian ly thân giữa vợ chồng không có gặp gỡ để hàn gắn tình cảm với nhau.

Nay nhận thấy mâu thuẫn của vợ chồng đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài nên chị xin ly hôn với anh S.

Về con chung: Có 01 con chung cháu Huỳnh Lê Bảo T, sinh ngày 14/02/2009, khi ly hôn chị yêu cầu được nuôi con chung, không yêu cầu anh S cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Theo nội dung biên bản lấy lời khai bị đơn anh Huỳnh Văn S trình bày:

Về hôn nhân: Anh thống nhất với trình bày của chị K. Theo anh mâu thuẫn của vợ chồng phát sinh từ mâu thuẫn của chị K với chị của anh làm cho vợ chồng thường xuyên cải vã. Chị K đã bỏ đi từ năm 2011 cho đến nay. Do vợ chồng đã ly thân hơn 10 năm không còn tình cảm với nhau nên chị K yêu cầu ly hôn thì anh đồng ý.

Về con chung: Có 01 con chung cháu Huỳnh Lê Bảo T, sinh ngày 14/02/2009 khi ly hôn anh đồng ý để chị K nuôi con, anh không cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Nam phát biểu quan điểm:

Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán chủ tọa phiên tòa trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử, Thư ký, đương sự nghiêm túc thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ của mình được Bộ luật tố tụng dân sự quy định.

Chị K, anh S có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt, căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt chị K, anh S.

Về nội dung giải quyết vụ án:

Căn cứ Điều 55, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, đề nghị:

Về hôn nhân: Chị K yêu cầu ly hôn với anh S, anh S cũng đồng ý ly hôn nên đề nghị công nhận sự thuận tình ly hôn của anh, chị.

Con chung: Có 01 con chung cháu Huỳnh Lê Bảo T, sinh ngày 14/02/2009, khi ly hôn chị K yêu cầu được nuôi con chung và anh S cũng đồng ý nên ghi nhận.

Ghi nhận chị K không yêu cầu anh S cấp dưỡng nuôi con.

Tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị không xem xét giải quyết.

Nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết đề nghị không xem xét giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, nghe ý kiến của Kiểm sát viên. Hội đồng xét xử nhận định:

[ 1]. Về tố tụng:

Căn cứ vào đơn khởi kiện và nội dung yêu cầu của chị Lê Thúy K, Hội đồng xét xử xác định vụ án có quan hệ tranh chấp là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Nam theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Nguyên đơn chị Lê Thúy K, bị đơn anh Huỳnh Văn S có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt. Căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị K, anh S.

. Về nội dung:

2.1. Về hôn nhân:

Hôn nhân của chị Lê Thúy K và anh Huỳnh Văn S là tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre, đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận.

Chị K yêu cầu được ly hôn với anh S. Chị cho rằng trong quá trình chung sống vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân do do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cải vã, cuộc sống giữa vợ chồng không còn hạnh phúc. Vợ chồng ly thân từ năm 2011 đến nay. Trong thời gian ly thân giữa vợ chồng không có gặp gỡ để hàn gắn tình cảm với nhau. Anh S cho rằng mâu thuẫn của vợ chồng là do chị K mâu thuẫn với chị của anh rồi bỏ nhà ra đi, vợ chồng đã ly thân hơn 10 năm.

Thấy rằng, mục đích hôn nhân là để xây dựng gia đình ấm no, tiến bộ, hạnh phúc; trong quá trình sống chung vợ chồng phải có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ, tin tưởng lẫn nhau. Xét thấy mâu thuẫn giữa chị K và anh S là có thật, mâu thuẫn của anh chị đã đến mức trầm trọng, anh chị đã có thời gian ly thân rất dài nhưng không hàn gắn tình cảm được. Anh, chị không có thiện chí đoàn tụ, chị K yêu cầu ly hôn và anh S cũng đồng ý ly hôn nên công nhận sự thuận tình ly hôn của chị K và anh S là phù hợp với quy định tại Điều 55 Luật hôn nhân gia đình.

2.2. Về con chung: Trong thời gian chung sống vợ chồng có 01 con chung cháu Huỳnh Lê Bảo T, sinh ngày 14/02/2009, khi ly hôn chị K yêu cầu được nuôi con chung, không yêu cầu anh S cấp dưỡng nuôi con. Anh S cũng đồng ý để chị K được nuôi con. Tại biên bản lấy ý kiến con cháu Bảo Thy trình bày có nguyện vọng sống với mẹ. Do đó, để đảm bảo môi trường sống ổn định và sự phát triển bình thường của con chung khi ly hôn giao cháu Bảo T cho chị K tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp. Ghi nhận chị K không yêu cầu anh S cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn, cha, mẹ đều có quyền, nghĩa vụ đối với con chung chưa thành niên theo quy định tại Điều 58, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

2.3 Về tài sản chung của vợ chồng: Chị K, anh S trình bày tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét, giải quyết.

2.4. Về nợ chung của vợ chồng: Chị K, anh S trình bày không có nên không xem xét, giải quyết.

. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Án phí dân sự không có giá ngạch đối với yêu cầu ly hôn là 300.000 đồng, chị K phải chịu theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Căn cứ Điều 55, 58, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVWQH14, ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Lê Thúy K.

Cụ thể tuyên:

1. Chị Lê Thúy K và anh Huỳnh Văn S thuận tình ly hôn.

2. Về con chung: Có 01 con chung cháu Huỳnh Lê Bảo T, sinh ngày 14/02/2009, khi ly hôn giao cháu Bảo T cho chị Lê Thúy K được trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận chị Lê Thúy K không yêu cầu anh Huỳnh Văn S cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn cha, mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chưa thành niên; người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở; trên cở sở lợi ích của con, cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con khi có căn cứ theo quy định tại Điều 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

3. Về tài sản chung của vợ chồng: Chị Lê Thúy K và anh Huỳnh Văn S trình bày tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét, giải quyết.

4. Về nợ chung của vợ chồng: Chị Lê Thúy K và anh Huỳnh Văn S trình bày không có nên không xem xét, giải quyết.

5. Về án phí dân sự không có giá ngạch đối với yêu cầu ly hôn là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) chị Lê Thúy K phải chịu nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003771 ngày 08 tháng 01 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre là đủ.

Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành bản án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nguyên đơn, bị đơn có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ