- Tranh chấp gì? Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phan Văn T buộc anh Ngô Công C có nghĩa vụ trả cho ông Phan Văn T số tiền 75.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦU NGANG TỈNH TRÀ VINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 23/2024/DS-ST Ngày: 02-4-2024 V/v Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦU NGANG, TỈNH TRÀ VINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Ngọc Hùng Anh
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Kim Na Rinh
2. Ông Huỳnh Văn Đương
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Phú Khang là Thư ký của Tòa án nhân dân huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Ông Lý Phước Bền - Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cầu Ngang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 67/2024/TLST-DS, ngày 02 tháng 01 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 79/2024/QĐXXST-DS ngày 05 tháng 3 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 36/2024/QĐST-DS, ngày 22/3/2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Phan Văn T, sinh năm 1967. Địa chỉ: Ấp C, xã V, huyện C, tỉnh Trà Vinh (Xin vắng mặt).
Bị đơn: Anh Ngô Công C, sinh năm 1983. Địa chỉ: Ấp B, xã M, huyện C, tỉnh Trà Vinh (Vắng măt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn ông Phan Văn T trình bày: Vào ngày 10/5/2018 anh Ngô Công C có đến cửa hàng của ông để mua thức ăn tôm về nuôi tôm, đến ngày 09/01/2019 sau khi hai bên chốt lại công nợ thì anh C còn thiếu ông với số tiền 75.953.000 đồng (Bảy mươi lăm triệu chín trăm năm mươi ba nghìn đồng). Ông đã nhiều lần liên hệ và đến gặp anh C yêu cầu anh C trả số tiền mua thức ăn tôm còn nợ nhưng anh C vẫn không trả. Nay ông yêu cầu Tòa án buộc anh Ngô Công C phải trả cho ông số tiền mua thức ăn tôm còn nợ là 75.953.000 đồng (Bảy mươi lăm triệu chín trăm năm mươi ba nghìn đồng) và ông không yêu cầu tính lãi.
Trong quá trình giải quyết vụ án, tại biên bản lấy lời khai ngày 04/01/2024 bị đơn anh Ngô Công C trình bày: Anh thừa nhận là có lấy thức ăn nuôi tôm của ông Phan văn T1 là chủ đại lý thức ăn T2, sau khi hai bên đối chiếu công nợ thì anh còn nợ ông Phan Văn T số tiền 75.953.000 đồng là đúng. Do trong quá trình nuôi tôm thua lỗ nên chưa trả số tiền trên cho ông T. Nay anh đồng ý trả số tiền trên cho ông Phan Văn T.
Vụ án đã được Tòa án tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng bị đơn vắng mặt không có lý do nên không thể tiến hành hòa giải được.
Ý kiến của Kiểm sát viên:
- Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán từ khi thụ lý hồ sơ vụ án cho đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án đều thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Ông Phan Văn T yêu cầu Ngô Công C trả tiền mua thức ăn tôm còn nợ 75.953.000 đồng, việc mua bán giữa hai bên có đối chiếu công nợ đến ngày 09/01/2019 với số tiền là 75.953.000 đồng và anh C thừa nhận là còn nợ ông Phan Văn T số tiền trên, do nuôi tôm thua lỗ nên đến nay vẫn chưa trả số tiền trên cho ông T. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Ngoài ra, vị Kiểm sát viên còn đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết về án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Ông Phan Văn T là chủ đại lý thức ăn T2 khởi kiện yêu cầu anh Ngô Công C trả tiền thức ăn còn nợ. Do đó, đây là tranh chấp dân sự về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản” nên theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh.
Về sự vắng mặt của đương sự: Tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn ông Phan Văn T có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt. Anh Ngô Công C là bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt ông Phan Văn T và anh Ngô Công C.
Về nội dung: Ông Phan Văn T là chủ đại lý thức ăn T2 khởi kiện yêu cầu anh Ngô Công C trả số tiền mua thức ăn tôm còn nợ là 75.953.000 đồng. Xét thấy từ năm 2018 đến năm 2019, anh Ngô Công C có mua thức ăn nuôi tôm của ông Phan Văn T và tính đến ngày 09/01/2019 sau khi hai bên chốt lại công nợ thì anh C còn thiếu ông với số tiền 75.953.000 đồng (Bảy mươi lăm triệu chín trăm năm mươi ba nghìn đồng). Việc hợp đồng mua bán thức ăn nuôi tôm giữa ông T với anh C gồm có: Hóa đơn bán hàng và đối chiếu nợ, mặc khác tại biên bản lấy lời khai ngày 04/01/2024 của Tòa án thì anh C cũng thừa nhận là anh còn nợ ông T số tiền mua thức ăn tôm là 75.953.000 đồng. Do đó, căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì nguyên đơn ông Phan Văn T không cần phải chứng minh.
Về lãi suất chậm trả: Nguyên đơn ông Phan Văn T không yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn phải có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn tiền mua thức ăn nuôi tôm còn nợ với số tiền 75.953.000 đồng (Bảy mươi lăm triệu chín trăm năm mươi ba nghìn đồng).
Xét đề nghị của Kiểm sát viên về nội dung giải quyết vụ án là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Do chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, căn cứ vào khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án nên bị đơn anh Ngô Công C phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch với số tiền 3.797.650 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 271, Điều 228 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Áp dụng các Điều 430, 433 của Bộ luật Dân sự.
Khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phan Văn T buộc anh Ngô Công C có nghĩa vụ trả cho ông Phan Văn T số tiền 75.953.000 đồng (Bảy mươi lăm triệu chín trăm năm mươi ba nghìn đồng).
Kể từ khi có đơn yêu cầu thi hành án của bên được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu thêm cho bên được thi hành án khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi được quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chưa thi hành án.
2. Về án phí:
- Nguyên đơn ông Phan Văn T không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho ông Phan Văn T số tiền tạm tạm ứng án phí sơ thẩm 1.898.825 đồng theo biên lai thu tiền số 0001033 ngày 02 tháng 01 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh.
- Buộc bị đơn anh Ngô Công C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 3.797.650 đồng.
3. Về Quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Trà Vinh; - VKSND huyện Cầu Ngang; - Chi cục THADS huyện Cầu Ngang; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Ngọc Hùng Anh |