vanban.org

Bản án 23/2024/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Thanh P.

Buộc ông Bùi Tấn T và bà Lê Thị Đ chịu trách nhiệm liên đới trả cho ông Trần Thanh P số tiền vay gốc còn nợ là 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng). Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản - Trần Thanh P - Bùi Tấn T Lê Thị Đ"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Thanh P.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THANH BÌNH
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 23/2024/DS-ST
Ngày: 26 – 02 – 2024
V/v tranh chấp về dân sự
hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BÌNH, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Thùy Trang.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Văn Dài;

2. Ông Trần Quang Vinh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Văn Phụng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Bình tham gia phiên tòa: Ông Võ Hồng Nhân - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 05, 26 tháng 02 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 362/2023/TLST-DS ngày 10 tháng 11 năm 2023 về việc “Tranh chấp về dân sự hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2024/QĐXXST-DS ngày 18 tháng 01 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Trần Thanh P, sinh năm 1977.

Địa chỉ: Khóm T, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

Người đại diện hợp pháp của ông Trần Thanh P: Bà Nguyễn Thanh V, sinh năm 1988. Địa chỉ: Số D, ấp B, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Tháp, là người đại diện theo ủy quyền (Hợp đồng ủy quyền ngày 24/11/2023).

- Bị đơn:

1. Ông Bùi Tấn T, sinh năm 1990;

2. Bà Lê Thị Đ, sinh năm 1987.

Cùng địa chỉ: Số A, ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

Bà Nguyễn Thanh V, bà Lê Thị Đ có mặt tại phiên tòa; ông Bùi Tấn T vắng mặt tại phiên tòa, không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Nguyên đơn ông Trần Thanh P có người đại diện theo ủy quyền là bà Nguyễn Thanh V trình bày:

Vào ngày 21/9/2019, ông Bùi Tấn T và bà Lê Thị Đ có vay của ông Trần Thanh P số tiền gốc 10.000.000 đồng, mục đích vay là để chi tiêu trong gia đình, lãi suất không có ghi trong biên nhận nhưng có thỏa thuận miệng là 1,66%/tháng, thời hạn vay không có ghi trong biên nhận nhưng thỏa thuận miệng là 12 tháng; tại cửa hàng kinh doanh của ông P thì ông T và bà Đ có ký tên và ghi họ tên vào biên nhận 21/9/2019 do ông P đánh máy sẵn. Ông T và bà Đ đóng lãi theo thỏa thuận từ ngày vay 21/9/2019 đến ngày 21/02/2020 được 996.000 đồng, nhưng từ ngày 21/02/2020 thì ông T và bà Đ không có trả được tiền vay gốc và lãi cho ông P.

Trong quá trình giải quyết vụ án đến trước khi mở phiên tòa ngày 26/02/2024, ông Trần Thanh P yêu cầu ông Bùi Tấn T và bà Lê Thị Đ liên đới trả cho ông P số tiền vay gốc là 10.000.000 đồng và tiền lãi với lãi suất 1,66%/tháng tính từ ngày 21/02/2020 cho đến ngày Tòa án xét xử.

Tại phiên tòa ngày 26/02/2024, người đại diện hợp pháp của ông Trần Thanh P xác định ông P thay đổi yêu cầu khởi kiện, cụ thể ông P chỉ yêu cầu ông T và bà Đ liên đới trả cho ông P số tiền vay gốc là 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng), không yêu cầu tính lãi.

- Bị đơn ông Bùi Tấn T: Ông T vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai, không có lý do. Trong quá trình giải quyết vụ án, ông T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ hòa hòa giải 02 lần, thông báo về việc yêu cầu cung cấp tài liệu, chứng cứ, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa, nhưng ông Bùi Tấn T vắng mặt không có lý do, không cung cấp văn bản ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của ông P, cũng không tham dự phiên họp – hòa giải 02 lần và phiên tòa 02 lần nên Tòa án không thu thập được lời khai, ý kiến của ông T đối với yêu cầu khởi kiện của ông P.

- Bị đơn bà Lê Thị Đ trình bày:

Bà Lê Thị Đ thống nhất với trình bày của ông Trần Thanh P về việc bà Lê Thị Đ và ông Bùi Tấn T có vay ông Trần Thanh P số tiền gốc 10.000.000 đồng theo biên nhận ngày 21/9/2019, mục đích vay để làm ăn kinh doanh trong gia đình. Từ khi vay thì bà Đ và ông T không có trả cho ông P số tiền vay gốc 10.000.000 đồng, chỉ trả được tiền lãi nhưng không trả đầy đủ, do hoàn cảnh khó khăn. Bà Đ không nhớ đã trả cho ông P số tiền lãi tổng cộng cụ thể là bao nhiêu tiền; bà Đ không yêu cầu Tòa án giải quyết về số tiền lãi bà Đ đã trả cho ông P, vì bà Đ thống nhất trả cho ông P số tiền lãi đã đóng.

Nay bà Đ thống nhất chịu trách nhiệm cá nhân trả cho ông Trần Thanh P số tiền gốc là 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng). Bà Đ không yêu cầu ông T cùng bà Đ chịu trách nhiệm liên đới trả cho ông P số tiền 10.000.000 đồng, nếu có tranh chấp với ông T thì bà Đ sẽ yêu cầu giải quyết bằng vụ án khác.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Bình tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã, bị đơn bà Lê Thị Đ thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật. Bị đơn ông Bùi Tấn T không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật.

- Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông P, buộc ông T và bà Đ chịu trách nhiệm liên đới trả cho ông P số tiền vay gốc là 10.000.000 đồng.

Tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án gồm:

- iấy CMND, sổ hộ khẩu ông Trần Thanh P (Bản sao);

- Biên nhận ngày 21/9/2019 của ông Bùi Tấn T và bà Lê Thị Đ (Bản chính);

- Đơn xin xác nhận nơi cư trú người bị kiện ngày 27/12/2021 của ông Trần Thanh P (Bản chính);

- Hợp đồng ủy quyền ngày 24/11/2023 của ông Trần Thanh P (Bản chính);

- Bản tự khai ngày 08/12/2023 của chị Nguyễn Thanh V (Bản chính).

- Đơn xin thay đổi yêu cầu khởi kiện ngày 11/12/2023 của ông Trần Thanh P và bà Nguyễn Thanh V (Bản chính);

- Bản tự khai ngày 20/12/2023 của ông Trần Thanh P (Bản chính)

- Bản tự khai ngày 08/12/2023 bà Lê Thị Đ (Bản chính);

- Văn bản xác minh v/v cư trú đối với ông Bùi Tấn T và bà Lê Thị Đ ngày 03/01/2024 của Công an xã T (Bản chính).

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Theo yêu cầu khởi kiện của ông Trần Thanh P và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, thể hiện quan hệ pháp luật đang tranh chấp là “Tranh chấp về dân sự hợp đồng vay tài sản”, Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình thụ lý giải quyết vụ án theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự.

Bị đơn ông Bùi Tấn T và bà Lê Thị Đ hiện nay cư trú tại ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp, nên nguyên đơn khởi kiện vụ án tại Tòa án nơi bị đơn cư trú là thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Bị đơn ông Bùi Tấn T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng ông T không có cung cấp ý kiến để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông T; ông T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa không rõ lý do, nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông T theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án có tiến hành thu thập chứng cứ, nên thuộc trường hợp Viện kiểm sát tham gia theo quy định tại khoản 2 Điều 21 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn ông Trần Thanh P xác định ông P chỉ yêu cầu bà Lê Thị Đ và ông Bùi Tấn T chịu trách nhiệm liên đới trả cho ông P số tiền vay gốc còn nợ tổng cộng là 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng), không yêu cầu tính lãi. Xét thấy, việc thay đổi yêu cầu khởi kiện của ông P là có lợi cho bị đơn và phù hợp theo quy định tại Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Căn cứ vào biên nhận ngày 21/9/2019 thể hiện ông P có cho ông T, bà Đ vay số tiền gốc là 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng), ông T, bà Đ đã nhận đủ số tiền vay gốc nêu trên. Nội dung biên nhận cho thấy tại thời điểm ông P cho ông T, bà Đ vay tiền thì các bên đều tự nguyện, có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch về việc cho vay tiền, mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.

Tại biên nhận nêu trên không thỏa thuận thời hạn vay tiền, ông P xác định thời hạn vay là 12 tháng, nên việc ông P khởi kiện tại Tòa án vào tháng 7/2022 đến nay đã quá thời hạn trả nợ, nhưng ông T, bà Đ không có trả nợ và cũng không xuất trình được tài liệu, chứng cứ để chứng minh đã trả nợ cho ông P, nên ông T, bà Đ đã vi phạm hợp đồng vay tài sản đối với ông P.

Ông P cam đoan chữ ký và chữ viết họ tên người vay tiền tại biên nhận là của ông Bùi Tấn T và bà Lê Thị Đ, đồng thời cam đoan ông Bùi Tấn T, bà Lê Thị Đ là người vay tiền với ông Bùi Tấn T, bà Lê Thị Đ là bị đơn là cùng một người, nếu sau này phát sinh tranh chấp việc ông T, bà Đ đã trả xong tiền nợ cho ông P, thì ông P chịu trách nhiệm.

Ông Bùi Tấn T đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án, nhưng ông T không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của ông P, cũng không cung cấp tài liệu, chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông T, nên Hội đồng xét xử không xem xét ý kiến hay yêu cầu của ông T.

Đối với ý kiến của bà Đ trình bày bà Đ đồng ý chịu trách nhiệm cá nhân trả cho ông P số tiền vay gốc 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng), ông P không đồng ý trình bày của bà Đ mà ông P yêu cầu ông T và bà Đ liên đới trả tiền cho ông P.

Điều 37 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Vợ chồng có các nghĩa vụ chung về tài sản sau đây:

1. Nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch do vợ chồng cùng thỏa thuận xác lập, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại mà theo quy định của pháp luật vợ chồng cùng phải chịu trách nhiệm”.

Do ông T và bà Đ cùng là người thỏa thuận xác lập hợp đồng vay tiền với ông P nên ông T và bà Đ phải cùng có trách nhiệm liên đới trả tiền cho ông P. Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận ý kiến của bà Đ là phù hợp quy định pháp luật.

Đối với yêu cầu trả tiền lãi, tại phiên tòa người đại diện hợp pháp của ông P không yêu cầu tính lãi đối với số tiền nợ gốc là 10.000.000 đồng, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Từ các nhận định nêu trên và căn cứ vào quy định tại khoản 1 Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015: “Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn”, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Thanh P, buộc ông Bùi Tấn T và bà Lê Thị Đ chịu trách nhiệm liên đới trả cho ông P số tiền vay gốc còn nợ là 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng), là phù hợp với quy định tại Điều 463, 466, 469 Bộ luật dân sự năm 2015.

Xét quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử do đó được chấp nhận.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 1 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.

Nguyên đơn ông Trần Thanh P không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, được nhận lại toàn bộ số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Bị đơn ông Bùi Tấn T và bà Lê Thị Đ phải có trách nhiệm liên đới chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm là 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng).

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 357, 463, 466, 469 Bộ luật dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 37 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147 , điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 244, Điều 266, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Thanh P.

Buộc ông Bùi Tấn T và bà Lê Thị Đ chịu trách nhiệm liên đới trả cho ông Trần Thanh P số tiền vay gốc còn nợ là 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Bị đơn ông Bùi Tấn T và bà Lê Thị Đ phải có trách nhiệm liên đới chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm là 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng).

Nguyên đơn ông Trần Thanh P không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, hoàn trả cho ông Trần Thanh P toàn bộ số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 350.000 đồng (Ba trăm năm mươi nghìn đồng) theo biên lai số 0004261 ngày 01/11/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp.

Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 26/02/2024). Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ