- Tranh chấp gì? Tranh chấp về thừa kế tài sản — án dân sự — "Đường Thanh H-Đường Tọng H-Tranh chấp chia di sản thừa kế và yêu cầu di dời tài sản trên đất"
- Tòa quyết gì? ăn cứ vào khoản 2 Điều 148; điểm b khoản 1 Điều 289; Điều 295; khoản 2, 4 Điều 308; Điều 309 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ chính? Điều 289 Bộ luật Tố tụng dân sự xử đình chỉ; Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự xử đình chỉ; Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LẠNG SƠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 23/2024/DS-PT Ngày 12-4-2024 V/v Tranh chấp chia di sản thừa kế và yêu cầu di dời tài sản trên đất |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phùng Đức Chính
Các Thẩm phán: Ông Vi Đức Trí
Ông Lộc Sơn Thái
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hà Mi - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên toà: Ông Lộc Văn Đông - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 01/2024/TLPT-DS ngày 15 tháng 01 năm 2024 về việc Tranh chấp chia di sản thừa kế và yêu cầu di dời tài sản trên đất.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 02/2023 S-ST ng 01 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân hu ện Tr ng Định, tỉnh Lạng Sơn bị kháng cáo, kháng nghị.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 16/2024 QĐ-PT ngày 11 tháng 3 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số: 33/2024 QĐ-PT ngày 27 tháng 3 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Đường Thanh H, sinh năm 1964; cư trú tại: Thôn N, xã Đ, huyện T, tỉnh Lạng Sơn; vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Xuân H; cư trú tại: Thôn 1, xã T, huyện Đ, thành phố Hà Nội (văn bản ủy quyền ngày 17/3/2023); có mặt.
- Bị đơn: Ông Đường Trọng H, sinh năm 1959; cư trú tại: Thôn N, xã Đ, huyện T, tỉnh Lạng Sơn; vắng mặt.
Người đại diện th o u quyền: Anh Đường Tuấn Đ (văn bản ủ qu ền ng 10 3 2023; vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Lạng Sơn;
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Bế Văn S - Phó trưởng phòng Tài ngu ên v Môi trường huyện T, tỉnh Lạng Sơn (văn bản số 3386/UBND-PTNMT ngày 21/9/2023); vắng mặt.
2. Bà Lộc Thị K, sinh năm 1962; vắng mặt.
3. Anh Đường Tuấn Đ, sinh năm 1997; vắng mặt.
Cùng cư trú tại: Thôn N, xã Đ, huyện T, tỉnh Lạng Sơn.
4. Ông Mỗ Minh T; vắng mặt.
5.
Thị N; vắng mặt.
ùng cư trú tại: Khu 3, thị trấn T, huyện T, tỉnh Lạng Sơn.
Người đại diện th o u quyền của ông M Minh , bà Hà hị N: Ông Ngu ễn Văn (văn bản ủ qu ền ng 12 6 2023 ; vắng mặt.
6. Ông Phan Minh H, sinh năm 1960; vắng mặt.
7. Bà Phan Thị H, sinh năm 1961; vắng mặt.
8. Anh Phan Minh C, sinh năm 1985; vắng mặt.
9. Anh Phan Minh H1, sinh năm 1987; vắng mặt.
Cùng cư trú tại: Khu 2, thị trấn T, huyện T, tỉnh Lạng Sơn.
- Người kháng cáo: Ông Đường Thanh l ngu ên đơn v ông Đường Trọng l bị đơn trong vụ án.
- Viện kiểm sát kháng nghị: Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lạng Sơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và Bản án dân sự sơ thẩm, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Cụ ông Đường Quốc C (chết năm 1972 v cụ bà Hoàng Thị V (chết năm 2009 có hai người con là ông Đường Trọng H và ông Đường Thanh H.
Về nguồn gốc diện tích đất ông Đường Thanh H yêu cầu chia thừa kế, trước năm 1960 l đất của ông Mỗ Văn (bố đẻ của bà Mỗ Thị T) mua với ông Nông Ích Đ (có giấy mua bán ngày 16/3/1957 do Ủy ban nhân dân hành chính thị trấn T chứng thực ; năm 1960 ông Mỗ Văn đóng góp v o ợp tác xã Đ, được ghi tại s iải thửa ruộng đất xã Đ lập năm 1960, theo tờ bản đồ giải thửa thị trấn T số 01 đo vẽ năm 1986, có 3 thửa đất liền kể nhau, gồm các thửa 36/100m2, thửa 37/124m2, thửa 38/146m2. Do quá trình quản lý, sử dụng qua các thời kỳ nên 3 thửa đất nêu trên đã biến động nhiều không còn hình dạng bờ thửa như bản đồ.
Quá trình sử dụng đất: Từ năm 1960 đến năm 1987 khu đất do đội sản xuất Thôn N thuộc Hợp tác xã Đ quản lý và sử dụng; năm 1985 b Hoàng Thị V có đơn xin đất làm nhà ở v được UBND xã Đ, UBND huyện chấp nhận xác nhận và bố trí một phần diện tích khoảng 50m2 tại khu đất tranh chấp, địa danh B, Thôn N, xã Đ để làm nhà ở, nhưng không l m nh xuống ruộng mạ, đến năm 1987 gia đình bà V san ủi toàn bộ khu đất nêu trên để làm nhà ở tạm khoảng 50m2, phần diện tích còn lại gia đình b vẫn trồng rau v hoa m u cho đến năm 1990 có dự án l m đường T - Q đã thu hồi là 105m2 đất để l m đường v bà Mỗ Thị T l người được bồi thường 10.500.000 đồng. Khi bà T nhận tiền bồi thường gia đình b Hoàng Thị V có đơn khiếu nại, thì đã được Thanh tra tỉnh Lạng Sơn thụ lý xem xét và Thông báo Kết luận số 59/TB-TTr ngày 09/3/2004.
Thực hiện Thông báo kết luận số 59/TB-TTr ngày 09/3/2004 của Thanh tra tỉnh Lạng Sơn: U N huyện T đã ban h nh Qu ết định số 358 QĐÐ-UB ngày 30/3/2004 về việc giải quyết tranh chấp đất đai giữa bà Hoàng Thị V với bà Mỗ Thị T, nội dung quyết định là thu hồi 26m2 đất và giải quyết cho bà Hoàng Thị V 65m2 đất, phần còn lại 200m2 đất giao cho Ủy ban nhân dân xã Đ quản lý và sử dụng vào mục đích công cộng. Bà Mỗ Thị T không nhất trí, có đơn khởi kiện Quyết Định hành chính số 358 QĐ-UB ngày 30/3/2004 của UBND huyện T. Tại Bản án số 01/HC-ST ngày 20/12/2004 Tòa án nhân dân huyện Tr ng Định, tuyên hủy toàn bộ Quyết định số 358 QĐ-UB ngày 30/3/2004 của UBND huyện T. Tại Bản án số 05/2005/HC-PT ngày 05/12/2005 của Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn, tu ên xử hủ điểm b, c điều 1 Quyết định số 358 QĐU ng 30 3 2004 của UBND huyện T; kiến nghị với UBND huyện T xem xét giải quyết lại 265m² đất tranh chấp theo luật định.
Tại quyết định số 1653 QĐ-UBND ngày 13/6/2015 về việc giải quyết tranh chấp đất đai: ông nhận bà Mỗ Thị T được quyền quản lý, sử dụng diện tích 298,7m2 và ông Đường Trọng được quyền quản lý và sử dụng 56,1m2 tại khu đất B, Thôn N, xã Đ, huyện T, tỉnh Lạng Sơn.
Ông Đường Trọng H có đơn khiếu nại lên UBND tỉnh Lạng Sơn. Trên ơ sở báo cáo 121/BC-TTr ngày 02/10/2019, Ủy ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn có kết luận số 228/TB-UBND ngày 11/10/2019 tại mục 3. Kết luận: Khu đất tranh chấp giữa ông Mỗ Minh T (con bà Mỗ Thị T, bà T đã chết) với ông Đường Trọng H l đất công do nh nước quản lý. Chủ tịch UBND huyện T, tỉnh Lạng Sơn thụ lý giải quyết tranh chấp đất đai l không đúng qu định, yêu cầu Chủ tịch UBND huyện T, tỉnh Lạng Sơn thu hồi lại Quyết định số 1653 QĐ-UBND ngày 13/6/2015. Ngày 15/11/2019 Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Lạng Sơn ban hành quyết định số 3051 QĐ-UBND thu hồi hủy bỏ Quyết định số 1653 QĐ-U N ng 13 6 2015 m trước đó đã ban h nh.
Ngày 02/12/2020 Ông Mỗ Minh T có đơn gửi Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Lạng Sơn xin được giao một phần diện tích đất tranh chấp là 298,3m2 thửa đất số 686; tờ bản đồ số 51 với hình thức giao đất có thu tiền; căn cứ tờ trình số 521/TTr-PTNMT ngày 18/12/2020 Ủy ban nhân dân huyện T ban hành quyết định số 2756 QĐ-UBND ngày 24/12/2020 giao cho hộ ông Mỗ Minh T và bà Hà Thị N diện tích đất nêu trên. Ngày 28/01/2021 Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Lạng Sơn cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông Mỗ Minh T và bà Hà Thị N. Phần diện tích đất còn lại là 58,3m2 thì ông Đường Trọng H vẫn đang quản lý sử dụng.
Nguyên đơn trình bày:
Về nguồn gốc diện tích đất:
Mảnh đất thứ nhất: Năm 1980 mẹ đẻ của ông Đường Thanh H là bà Hoàng Thị V được Ủy ban nhân dân huyện T giao cho sử dụng căn nh theo văn bản số 51/UB/XD ngày 16/9/1980 tại địa chỉ khu 2 thị trấn T, huyện T na địa chỉ số 35, đường 10/10, Khu 2 thị trấn T, huyện T, tỉnh Lạng Sơn. ăn nh ở trên diện tích khoảng 200m2. o điều kiện công tác, mẹ ông Đường Thanh H đã giao căn nh trên cho người quen ở nhờ, sau này ông Đường Trọng H (là anh trai) nhận lại và quản lý sử dụng. Thời điểm nhận lại không nhớ rõ năm n o.
Mảnh đất thứ hai: V o năm 1985 mẹ đẻ của ông là bà Hoàng Thị V có đơn xin ợp tác xã Đ và Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Lạng Sơn mảnh đất diện tích là 360m2 tại Thôn N, xã Đ để làm nhà ở, sau đó ông Đường Thanh H lấy vợ và ra ở riêng. Diện tích đất này ông Đường Trọng H (là anh trai ruột) vẫn quản lý. Nay bố, mẹ của ông đã chết ông Đường Thanh H khởi kiện yêu cầu được chia ½ diện tích đất, theo đo đạc ngày 01/4/2022 có t ng diện tích 356,6m2, trong đó có 58,3m2 hiện hộ ông Đường Trọng H đang quản lý sử dụng, trên đất có căn nh cấp 4, còn diện tích 298,3m2 đã được UBND huyện T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông Mỗ Minh T và bà Hà Thị N (thửa đất số 686, diện tích 298,3m2, tờ bản đồ địa chính số 51 xã Đ). Ông Đường Thanh H yêu cầu chia di sản thừa kế theo qu định của pháp luật.
Bị đơn trình bày:
Ngu ên đơn v bị đơn là hai anh em ruột, thửa đất mà ông Đường Thanh H yêu cầu chia thừa kế có diện tích là 358,6m2 tại Thôn N, xã Đ. Về nguồn gốc đâ l diện tích đất mà mẹ của ông là bà Hoàng Thị V được hợp tác xã Đ giao cho bà Hoàng Thị V để l m nh . Đối với yêu cầu của ông Đường Thanh H, ông Đường Trọng H nhất chí chia diện tích nêu trên theo qu định của pháp luật.
Ông Phan Minh H trình bày:
Năm 1984 ông Phan Minh H mua mảnh đất số 182, khu 2, thị trấn T, huyện T, tỉnh Lạng Sơn, đ i thành số nh 35, đường 10/10, khu 2, thị trấn T, huyện T, tỉnh Lạng Sơn với ông Voòng hăn M với số tiền 40.000 đồng. Đến ng 21 5 1985 có văn bản số 148 UB/QLN của UBND huyện T, tỉnh Lạng Sơn về việc chuyển dịch quyền sở hữu nhà ở ngôi nhà 182, Khu 2, thị trấn T, huyện T, tỉnh Lạng Sơn, bên giao nhà ông Voòng hăn M, bên nhận nhà ông Quán Minh H (đến năm 2017 sửa đ i họ thành Phan Minh H . Đến ngày 21/02/2001 ông Phan Minh H được cấp phép xây dựng công trình nhà Cấp 3 hai tầng trên nền cũ. Mảnh đất trên ông Phan Minh H được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 29/9/2004 tại số thửa 16 tờ bản đồ số 15 t ng diện tích 256,40m2, trong đó tích đất ở 166,4m2, diện tích đất vườn 90,0m2. (mang tên hộ ông Quán Minh H). Nay ông Đường Thanh H đòi ông Phan Minh H trả lại mảnh đất tại Số nhà 35 l không có căn cứ, vì mảnh đất trên ông Phan Minh H mua hợp pháp và quản lý sử dụng từ năm 1984 cho đến 29 9 2004 thì được Chủ tịch UBND huyện T công nhận và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông Phan Minh H.
Kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ: Xác định được diện tích 298,3m2 hiện đã được Ủy ban nhân dân huyện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Mỗ Minh T và bà Hà Thị N, đã được gia đình xâ dựng căn nh kho, lợp mái tôn trên toàn bộ 298,3m2. Đâ chính l phần diện tích đất ông Đường Thanh H khởi kiện chia thừa kế. Phần đất còn lại 58,3m2 do ông Đường Trọng H đang quản lý và sử dụng, trên đất có căn nh cấp 4 được xây dựng từ lâu, ông Đường Trọng H cùng gia đình đang sinh sống tại đó (ông Đường Thanh H yêu cầu chia thừa kế cả phần đất này 58,3m2). T ng cộng diện tích ông Đường Thanh H yêu cầu chia di sản thừa kế là 356,6m2.
Vụ án nêu trên đã được xét xử sơ thẩm tại Bản án số 02/2022/DS-ST ngày 07/7/2022, Bản án bị kháng cáo, kháng nghị. Tại Bản án xét xử phúc thẩm số 56/2022/DS-PT ngày 13-12-2022 hủy toàn bộ Bản án sơ thẩm số 02/2022/DS-ST ngày 07/7/2022 với lý do: Tòa án cấp sơ thẩm chỉ chấp nhận đối với yêu cầu chia thừa kế quyền sử dụng 298,3m2 đất mà hiện nay Ủy ban nhân dân huyện đã cấp Giấy chứng nhận quyền sự dụng đất cho hộ ông Mỗ Minh T và bà Hà Thị N; yêu cầu ông Mỗ Minh T và bà Hà Thị N tháo dỡ, di dời căn nh kho đã xâ trên diện tích đất nói trên l chưa giải quyết hết yêu cầu khởi kiện; là vi phạm nghiêm trọng thủ tụng tố tụng, cấp phúc thẩm không thể khắc phục được. Tòa cấp sơ thẩm xác định phần diện tích 298,3m2 mà hiện nay Ủy ban nhân dân huyện đã cấp Giấy chứng nhận quyền sự dụng đất cho hộ ông Mỗ Minh T và bà Hà Thị N không phải là di sản thừa kế cụ Đường Quốc C (chết năm 1972 v cụ Hoàng Thị V (chết năm 2008 để lại. Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm lại xem xét, quyết định trong Bản án sơ thẩm về tính hợp pháp trong việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Sêri CI638841, số vào s cấp giấy CH 07638, cấp ngày 08/01/2021 cho hộ ông Mỗ Minh T và bà Hà Thị N cũng như việc tồn tại tài sản trên diện tích đất nêu trên l vượt quá phạm vi giải quyết vụ án. Bởi vì: Phạm vi giải quyết vụ án là chia di sản thừa kế, những nội dung không phải chia di sản thừa kế thì không được xem xét giải quyết.
Sau khi Tòa án cấp sơ thẩm thụ lý, giải quyết lại vụ án:
Tại bu i xét thẩm định tại chỗ v định giá tài sản, các đương sự đều thống nhất giá trị đất 20.000.000đồng/m2 theo biên bản ngày 01/4/2022. Sau khi xem xét các vị trí thửa thất v công trình trên đất không có biến động, ngu ên đơn, bị đơn thống nhất không cần định giá lại, giữ nguyên theo biên bản định giá tài sản ngày 01/4/2022 và biên bản thẩm định, định giá ngày 20/9/2023 (không yêu cầu kẻ vẽ sơ đồ lại, giữ ngu ên sơ đồ trích đo khu đất đang tranh chấp số TĐ 28 2022 ng 20 4 2022 do đơn vị đo đạc Công ty C phần tư vấn tài nguyên số 1 Lạng Sơn thực hiện). Giá trị tài sản tranh chấp chia thừa kế theo biên bản định giá tài sản của Hội đồng định giá: Giá trị đất 20.000.000 đồng/m2 x 356,6m2 = 7.132.000.000đ. T i sản trên đất tại thửa đất có diện tích 58,3m2 = 320.000.000đ; T i sản trên đất tại thửa đất có diện tích 298,3 m2 = 630.000đ.
Ngu ên đơn có đơn khởi kiện chia thừa kế sửa đ i b sung, rút toàn bộ yêu cầu chia di sản thừa kế đối với 200m² đất thuộc thửa đất số 16, tờ bản đồ số 15 bản đồ địa chính thị trấn T đo vẽ năm 1999, tại địa chỉ số 35, đường 10/10, khu 2, thị trấn T, huyện T, tỉnh Lạng Sơn do ông Phan Minh H đang quản lý sử dụng. Ngu ên đơn êu cầu chia diện tích đất 356,6m2 và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Ủy ban nhân dân huyện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Mỗ Minh T và bà Hà Thị N; yêu cầu ông Mỗ Minh T, bà Hà Thị N và ông Đường Trọng H tháo dỡ, di dời căn nh , nh kho đã xâ dựng ra khỏi diện tích tranh chấp, ông Đường Thanh H và ông Đường Trọng H mỗi người được quyền quản lý và sử dụng 178,3m2 đất tại thửa đất số 686, diện tích 298,3m2, và một phần thửa đất số 375, diện tích 58,3m2 tờ bản đồ địa chính số 51 xã Đ, địa chỉ Thôn N, xã Đ, huyện T, tỉnh Lạng Sơn; Yêu cầu hủy Quyết định 2746 QĐ-UBND ngày 24/12/2020, của Ủy ban nhân dân huyện T.
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn anh Đường Tuấn Đ không chấp nhận chia di sản thừa với số diện tích 58,3m2 mà ông Đường Thanh H yêu cầu trên. Anh Đường Tuấn Đ cho rằng phần diện tích trên là của ông b để lại cho bố anh ường Tuấn Đ là ông Đường Trọng H; đồng ý với yêu cầu bên nguyên đưa ra ủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của hộ ông Mỗ Minh T, Hà Thị N với số diện tích 298,3m2 tại thửa đất số 686 và và hủy Quyết định 2746 QĐ-UBND ngày 24/12/2020, của Ủy ban nhân dân huyện T; Yêu cầu Tòa án thụ lý yêu cầu độc lập của bị đơn đối với người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Mỗ Minh T và bà Hà Thị N đối với diện tích 298,3 m2 tại thửa đất số 686, yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 298,3 m2 tại thửa đất số 686 và di dời toàn bộ tài sản trên đất trả lại diện tích đất cho ông Đường Trọng H; Yêu cầu hủ ông văn số 1234/UBND-PTNMT ngày 13/10/2020 của Chủ tịch UNND huyện T vì văn bản n xác định thửa đất nhà ông Đường Trọng H đang quản lý sử dụng và thửa đất 686 l đất công. Việc xác định thửa đất tranh chấp trên l đất công là thiếu căn pháp lý, xâm phạm trực tiếp tới quyền và lợi ích hợp pháp của gia đình bị đơn.
Người đại diện theo ủy quyền của ông Mỗ Minh T và bà Hà Thị N là ông Nguyễn Văn không chấp nhận yêu cầu của ông Đường Thanh H và Đường Trọng H vì diện tích đất này có nguồn gốc là của gia đình nh ông Mỗ Minh T qua nhiều cấp chính quyền giải quyết na đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông ông Mỗ Minh T và bà Hà Thị N.
Người đại diện theo ủy quyền cho Ủy ban nhân dân huyện T là ông Bế Văn S, Phó trưởng phòng T i ngu ên Môi trường trình bày:
Vụ việc tranh chấp đất đai giữa bà Mỗ Thị T (đã chết), trú tại khu 3, thị trấn T, huyện T với ông Đường Trọng H, trú tại Thôn N, xã Đ, huyện T đã được các cơ quan giải quyết nhiều lần. Cụ thể gần đâ U N hu ện đã ban h nh quyết định số 1653 QĐ-UBND ngày 13/6/2015 với nội dung giải quyết là công nhận bà Mỗ Thị T được quyền quản lý, sử dụng diện tích 298,7m2 và công nhận ông Đường Trọng H được quyền quản lý, sử dụng diện tích là 56,1 m2 (trong đó 28,2 m2 l đất ở nông thôn và 27,9 m2 l đất trồng câ h ng năm khác tại Thôn N, xã Đ, huyện T, từ đó gia đình ông Đường Trọng H xây dựng nhà ở trên diện tích nêu trên, còn phần diện tích giải quyết cho gia đình b Mỗ Thị T nêu trên cũng xâ móng bằng đá rồi xâ th nh nh kho đến năm 2019 U N xã Đ mới xử phạt vi phạm hành chính (do xây dựng trên đất nông nghiệp chưa được chuyển mục đích sử dụng đất . Tu nhiên, đến năm 2019 ông Đường Trọng H mới có đơn khiếu nại đến Chủ tịch UBND tỉnh v đã được Chủ tịch UBND tỉnh kết luận tại Thông báo số 228/TB-UBND ngày 11/10/2019 khẳng định là “khu đất tranh chấp là đất công do Nhà nước quản lý, Chủ tịch UBND huyện T thụ lý giải quyết tranh chấp đất đai là không đúng quy định, yêu cầu Chủ tịch UBND huyện tự thu hồi lại Quyết định số 1653/QĐ-UBND ngày 13/6/2015...”. Ngày 15/11/2019 Chủ tịch UBND huyện đã ban h nh Qu ết định số 3051 QĐ-UBND để thu hồi quyết định số 1653 QĐ-UBND ngày 13/6/2015.
Sau khi có quyết đinh thu hồi do bà Mỗ Thị T đã chết nên người thừa kế là hộ ông Mỗ Minh T và bà Hà Thị N, trú tại số nhà 87, phố C, khu 3, thị trấn T đã l m các thủ tục xin giao đất theo hình thức giao đất có thu tiền sử dụng đất với nh nước, đã được UBND huyện giao đất tại quyết định số 2746 QĐ-UBND ng 24 12 2020, gia đình đã nộp tiền đầ đủ v o ngân sách nh nước nên đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích nêu trên theo quy định.
Đối với phần diện tích 58,3m2 hiện na gia đình ông Đường Trọng H đã xâ nh , chưa được cơ quan có thẩm quyền giao đất l do ông không đến cơ quan nh nước lập các thủ tục đăng ký đất đai, xin giao đất để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo qu định do vậy thửa đất gia đình ông Đường Trọng H đang sử dụng chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Từ khi hộ ông Mỗ Minh T và bà Hà Thị N được UBND huyện giao đất cho đến nay UBND huyện chưa nhận được khiếu nại hay khiếu kiện gì liên quan đến việc giao đất tại quyết định số 2746 QĐ-UBND ngày 24/12/2020 cho hộ ông Mỗ Minh T và bà Hà Thị N đối với khu đất nêu trên. Trong thời gian lập các thủ tục giao đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông Mỗ Minh T và bà Hà Thị N nêu trên cho đến nay UBND huyện không nhận được đơn thư khiếu nại, kiến nghị của ông Đường Trọng H, ông Đường Thanh H hay bất kỳ ai liên quan đến quan đến việc giao đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
Quan điểm của UBND huyện khẳng định là việc giao đất cho hộ ông Mỗ Minh T và bà Hà Thị N, trú tại số nhà 87, phố C, khu 3, thị trấn T đối với thửa đất số 686, diện tích 298,3 m2, tờ bản đồ địa chính số 51 xã Đ tại quyết định 2746 QĐ-U N ng 24 12 2020 l đúng qu định của pháp luật. Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Sêri CI 638841, số vào s cấp giấy CH 07638, cấp ngày 08/01/2021 theo hình thức “nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất” cho hộ ông Mỗ Minh T và bà Hà Thị N đối với thửa đất số 686, diện tích 298,3 m2, tờ bản đồ địa chính số 51 xã Đ nêu trên l đúng qu định của pháp luật. Do vậy UBND huyện không chấp nhận việc hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 02/2023/DS-ST ngày 01/12/2023 và Quyết định sửa chữa, b sung Bản án sơ thẩm số 03 2023 QĐ-SCBSBA ngày 21/12/2023 của Tòa án nhân dân huyện Tr ng Định, tỉnh Lạng Sơn đã quyết định:
1. Đình chỉ giải quyết toàn bộ yêu cầu của ông Đường Thanh H yêu cầu chia thừa kế đối với diện tích 200m² đất tại địa chỉ số 35, đường 10/10, khu 2, thị trấn T, huyện T, tỉnh Lạng Sơn, ông Đường Thanh H có quyền khởi kiện trong vụ án khác nếu có yêu cầu.
2. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ngu ên đơn ông Đường Thanh H, ông Đường Thanh H xác định đối với một phần thửa đất số 375, diện tích 58,3m2 tờ bản đồ địa chính số 51 xã Đ, địa chỉ Thôn N, xã Đ, huyện T, tỉnh Lạng Sơn l di sản thừa kế của bà Hoàng Thị V.
3. hia như sau: Ông Đường Thanh H được chia đi sản thừa kế 29,15m2; ông Đường Trọng H được chia di sản thừa kế 29,15m2 nằm trong một phần thửa đất số 375, diện tích 58,3m2 tờ bản đồ địa chính số 51 xã Đ, địa chỉ Thôn N, xã Đ, huyện T, tỉnh Lạng Sơn.
4. Giao toàn bộ diện tích 58,3m2, trên đất có căn nh cấp 4 của hộ ông Đường Trọng H nằm trong một phần thửa đất số 375 tờ bản đồ địa chính số 51 xã Đ, địa chỉ Thôn N, xã Đ, huyện T, tỉnh Lạng Sơn cho ông Đường Trọng H quản lý và sử dụng, có các điểm, vị trí tiếp giáp: Phía Đông giáp với vỉa hè Quốc lộ 3B (N độ dài cạnh: B-C= 5,04m; phía Tây giáp với đường ngõ, độ dài các cạnh E-F = 6,45m, D-E = 1,01m; phía nam giáp với đường ngõ bê tông, độ dài cạnh C-D = 9,94m; phía Bắc với nhà kho của ông Mỗ Minh T (thửa đất số 686), độ dài cạnh F-B = 14,95m (thể hiện trên mảnh trích đo khu đất đang tranh chấp số TĐ 28 2022 ng 20 4 2022 do đơn vị đo đạc Công ty C phần tư vấn tài nguyên số 1 Lạng Sơn thực hiện kèm theo). Ông Đường Trọng H có trách nhiệm liên hệ với ơ quan chu ên môn l m thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo qu định của Luật đất đai. Ông Đường Trọng H bù giá trị phần di sản được chia thừa kế cho ông Đường Thanh H 583.000.000 (năm trăm tám mươi ba triệu đồng. Buộc hộ ông Đường Thanh H phải chấm dứt hành vi tranh chấp với hộ ông Đường Trọng H, diện tích 29,15m2 nêu trên.
5. Không xem xét yêu cầu b sung của ông Đường Thanh về việc hủy Quyết định số 2746 QĐ-UBND ngày 24/12/2020 của Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Lạng Sơn; hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Sêri CI 638841, số vào s cấp giấy CH 07638, cấp ng 08 01 2021 đã được Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Lạng Sơn cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông Mỗ Minh T và bà Hà Thị N trú tại số nhà 87, phố C, khu 3, thị trấn T, huyện T, tỉnh Lạng Sơn, đối với thửa đất số 686, tờ bản đồ địa chính số 51 xã Đ, huyện T, tỉnh Lạng Sơn, diện tích 298,3m2 đất tại Thôn N, xã Đ, huyện T, tỉnh Lạng Sơn v yêu cầu ông Mỗ Minh T và bà Hà Thị N di dời căn nh nh kho trên diện tích đất 298,3m2, đâ l quan hệ pháp luật Tranh chấp quyền sử dụng đất không liên quan đến chia di sản thừa kế.
6. Không xem xét yêu cầu độc lập của ông Đường Trọng H về việc hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Sêri CI 638841, số vào s cấp giấy CH 07638, cấp ng 08 01 2021 đã được Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Lạng Sơn cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông Mỗ Minh T và bà Hà Thị N trú tại số nhà 87, phố C, khu 3, thị trấn T, huyện T, tỉnh Lạng Sơn, đối với thửa đất số 686, tờ bản đồ địa chính số 51 xã Đ, huyện T, tỉnh Lạng Sơn, diện tích 298,3m2 đất tại Thôn N, xã Đ, huyện T, tỉnh Lạng Sơn v êu cầu ông Mỗ Minh T và bà Hà Thị N di dời căn nhà nhà kho trên diện tích đất 298,3m2; không xem xét giải quyết yêu cầu của ông Đường Trọng H về việc hủ công văn số 1234 của UBND huyện T ngày 13/10/2020 và Quyết định số 2746 QĐ-UBND ngày 24/12/2020 của Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Lạng Sơn đâ l quan hệ pháp luật Tranh chấp quyền sử dụng đất không liên quan đến chia di sản thừa kế.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng, quyền khởi kiện lại và quyền kháng cáo theo qu định của pháp luật.
Trong thời hạn luật định, các đương sự có kháng cáo, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lạng Sơn có kháng nghị, cụ thể:
Ngu ên đơn ông Đường Thanh kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xét xử theo hướng chấp nhận to n bộ êu cầu khởi kiện theo Đơn khởi kiện sửa đ i, b sung ng 06 9 2023 của ngu ên đơn; đề nghị xem xét lại phần án phí đối với ngu ên đơn
Bị đơn ông Đường Trọng kháng cáo đề nghị hủ ản án sơ thẩm số: 02/2023/DS-ST ng 01 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân hu ện Tr ng Định, tỉnh Lạng Sơn.
Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lạng Sơn kháng nghị đề nghị hủ ản án sơ thẩm số: 02 2023 S-ST ng 01 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân hu ện Tr ng Định, tỉnh Lạng Sơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Người đại diện theo ủy quyền của ngu ên đơn là anh Trần Xuân H thay đ i nội dung kháng cáo, đề nghị xử huỷ bản án sơ thẩm để xét xử xử lại vì có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng. Đó l Toà án cấp sơ thẩm không thụ lý b sung yêu cầu khởi kiện của ngu ên đơn; không đưa U N xã Đ, huyện T, Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện T và Chủ tịch UBND huyện T vào tham gia tố tụng với tư cách l người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; giải quyết vượt quá phạm vi khởi kiện; giải quyết không đúng thẩm quyền.
Ngày 28 3 2024 bị đơn Đường Trọng có đơn xin rút to n bộ nội dung kháng cáo và có đơn xin xét xử vắng mặt.
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều vắng mặt v đã có đơn xin xét xử vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lạng Sơn phát biểu ý kiến:
1. Về việc chấp hành pháp luật tố tụng: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án tại cấp phúc thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa chấp h nh đúng qu định của Bộ luật Tố tụng dân sự; người tham gia tố tụng có mặt tại phiên tòa đã được thực hiện đầ đủ các quyền v nghĩa vụ của mình theo qu định của pháp luật tố tụng dân sự; có đương sự vắng mặt nhưng đã có ủy quyền, có đơn xin xét xử vắng mặt.
2. Về việc giải quyết kháng cáo:
Xét thấy ngày 28/3/2024, bị đơn ông Đường Trọng H có đơn xin rút to n bộ yêu cầu kháng, việc rút kháng cáo của bị đơn ông Đường Trọng H là hoàn toàn tự nguyện. Căn cứ qu định tại điểm b khoản 1 Điều 289 Bộ luật Tố tụng dân sự đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bị đơn ông Đường Trọng H.
Đối với nội dung kháng cáo của ngu ên đơn ông Đường Thanh H yêu cầu hủy Quyết định số 2746 QĐ-UBND ngày 24/12/2020 của Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Lạng Sơn; hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Sêri CI 638841, số vào s cấp giấy CH 07638, cấp ng 08 01 2021 đã được Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Lạng Sơn cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông Mỗ Minh T và bà Hà Thị N đối với thửa đất số 686, tờ bản đồ địa chính số 51 xã Đ, huyện T. Xét thấy nội dung này Tòa án cấp sơ thẩm không thụ lý, không giải quyết nên cấp phúc thẩm không xem xét.
Đối với kháng cáo của ông Đường Thanh H yêu cầu chia thừa kế diện tích 298,3m2 thửa đất số 686, tờ bản đồ địa chính số 51 xã Đ, huyện T, buộc ông Mỗ Minh T, bà Hà Thị N phải tháo dỡ toàn bộ công trình trên đất. Xét thấy phần diện tích này hiện do ông Mỗ Minh T, bà Hà Thị N đang quản lý sử dụng, trên đất có căn nh kho của ông Mỗ Minh T, bà Hà Thị N xây dựng. Phần diện tích n đã được Ủy ban nhân huyện T, tỉnh Lạng Sơn cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Sêri CI 638841, ngày 08/01/2021 cho hộ ông Mỗ Minh T và bà Hà Thị N. Ngoài lời trình bày ông Đường Thanh H không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh phần diện tích này là di sản thừa kế do cụ Hoàng Thị V để lại cho ông Đường Thanh H, ông Đường Trọng H. o đó kháng cáo của ông Đường Thanh H yêu cầu chia di sản thừa kế đối với phần diện tích này, buộc ông Mỗ Minh T, bà Hà Thị N phải tháo dỡ, di dời công trình trên đất là không có căn cứ, cơ sở chấp nhận.
Đối với diện tích 58,3m2 thuộc một phần thửa đất số 375 tờ bản đồ địa chính số 51 xã Đ, địa chỉ Thôn N, xã Đ, huyện T, tỉnh Lạng Sơn, có căn cứ xác định đâ là di sản của cụ Hoàng Thị V để lại, bị đơn ông Đường Trọng H đã có quá trình quản lý sử dụng, tạo lập tài sản nhà cấp 4 trên đất, diện tích đất nhỏ theo qu định của pháp luật đất đai không đủ điều kiện để tách thửa chia bằng hiện vật. Tòa án cấp sơ thẩm xử cho bị đơn ông Đường Trọng H được quản lý sử dụng đất, sở hữu tài sản l căn nh cấp 4, ông Đường Trọng H bù giá trị di sản được chia thừa kế 29,15m2 cho ông Đường Thanh H trị giá là 583.000.000 đồng l có căn cứ. Ngu ên đơn kháng cáo tiếp tục yêu cầu chia phần diện tích này và buộc bị đơn ông Đường Trọng H phải tháo dỡ, di dời tài sản là không có căn cứ, cơ sở chấp nhận.
3. Về quan điểm của Viện kiểm sát đối với Kháng nghị số 108/QĐ-VKS-DS ngày 29/12/2023 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lạng Sơn:
1. Tại phiên tòa sơ thẩm ngu ên đơn, bị đơn đều vắng mặt nhưng bản án sơ thẩm lại áp dụng khoản 2 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự để đình chỉ giải quyết đối với việc rút yêu cầu của ngu ên đơn tại phiên tòa l không có căn cứ. Đồng thời, không làm rõ diện tích phần đất đã đình chỉ này thuộc thửa đất nào, tờ bản đồ bao nhiêu là không phù hợp, không có căn cứ.
2. Tại mục 5, mục 6 phần Quyết định của bản án sơ thẩm tuyên không chấp nhận yêu cầu b sung của ông Đường Thanh H, yêu cầu độc lập của ông Đường Trọng H khi không thụ lý những yêu cầu này là giải quyết vượt quá yêu cầu đương sự; đồng thời việc giải quyết đối với các quyết định cá biệt của UBND huyện là vi phạm thẩm quyền giải quyết theo qu định tại khoản 4 Điều 34 Bộ luật Tố tụng dân sự.
3. Bị đơn Đường Trọng H l người trực tiếp quản lý, sử dụng, trông coi, giữ gìn di sản, bản án sơ thẩm không xem xét đến công sức của người quản lý di sản l không đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của ông Đường Trọng H.
4. Bản án sơ thẩm xác định diện tích 58,3m2 thuộc một phần thửa đất số 375, tờ bản đồ địa chính số 51, xã Đ, huyện T hiện na trên đất có nhà cấp 4 của hộ ông Đường Trọng H đang ở, giao toàn bộ diện tích 58,3m2 cho hộ ông Đường Trọng H quản lý sử dụng. Tuy nhiên phần quyết định của Bản án sơ thẩm lại tuyên giao toàn bộ diện tích 58,3m2 cho ông Đường Trọng H quản lý, sử dụng; ông Đường Trọng H có trách nhiệm liên hệ với cơ quan chu ên môn làm thủ tục cấp NQS Đ l mâu thuẫn giữa phần nhận định và phần Quyết định. Đồng thời, bản án sơ thẩm tuyên giao toàn bộ diện tích 58,3m2 cho ông Đường Trọng H quản lý sử dụng l không đúng thẩm quyền giao đất theo quy định của pháp luật về đất đai.
5. Bị đơn ông Đường Trọng H sinh năm 1959 hiện na đã 64 tu i l người cao tu i thuộc diện được miễn án phí theo qu định tại điểm đ, khoản 1, Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủ ban Thường vụ Quốc hội. Quá trình giải quyết vụ án ông Đường Trọng H đã có đơn xin miễn án phí nhưng cấp sơ thẩm vẫn buộc ông Đường Trọng H phải chịu 27.320.000 đồng án phí sơ thẩm có giá ngạch mà không miễn án phí cho ông Đường Trọng H là ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông Đường Trọng H.
Từ những phân tích nêu trên, Đại diện Viện kiểm sát đề nghị: Đối với vi phạm giải quyết vượt quá yêu cầu đương sự; vi phạm thẩm quyền giải quyết Tòa án cấp sơ thẩm sửa chữa b sung bản án l không đúng qu định. Tuy nhiên nội dung này Tòa án cấp sơ thẩm không thụ lý giải quyết. Xét thấy chỉ cần hủy một phần bản án sơ thẩm đối với phần Quyết định của bản án sơ thẩm tu ên vượt quá yêu cầu của đương sự, vi phạm thẩm quyền giải quyết. Đối với các vi phạm khác kháng nghị chỉ ra qua phần hỏi, tranh luận công khai tại phiên tòa có thể khắc phục sửa bản án sơ thẩm. Không cần thiết phải hủy toàn bộ bản án sơ thẩm.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng qu định tại điểm b khoản 1 Điều 289; khoản 2, khoản 3 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự xử đình chỉ xét xử đối với kháng cáo của bị đơn ông Đường Trọng H; không chấp nhận kháng cáo của ngu ên đơn ông Đường Thanh H; chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lạng Sơn hủy một phần, sửa một phần bản án sơ thẩm số 02/2023/DS-ST ngày 01/12/2023 của Tòa án nhân dân huyện Tr ng Định, tỉnh Lạng Sơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:[
[1] Về tố tụng: Tại phiên tòa phúc thẩm vắng mặt bị đơn v những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Tuy nhiên, quá trình giải quyết vụ án, người tham gia tố tụng vắng mặt nói trên đã cung cấp lời khai, văn bản nêu ý kiến; đồng thời có đơn đề nghị xét xử vắng mặt hoặc có ủy quyền, người nhận ủy quyền có mặt tại phiên tòa. o đó, căn cứ khoản 3 Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, ội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt những người tham gia tố tụng nói trên.
[2] Tại cấp phúc thẩm, bị đơn ông Đường Trọng H có đơn xin rút to n bộ kháng cáo, việc rút kháng cáo của bị đơn l ho n to n tự nguyện, căn cứ điểm b khoản 1 Điều 289 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của ông Đường Trọng H.
[3] Tại đơn khởi kiện ông Đường Thanh H khởi kiện yêu cầu chia thừa kế đối với 200m² đất thuộc thửa đất số 16, tờ bản đồ số 15 bản đồ địa chính thị trấn T đo vẽ năm 1999, tại địa chỉ số 35, đường 10/10, khu 2, thị trấn T, huyện T, tỉnh Lạng Sơn. Quá trình giải quyết vụ án, người đại diện theo ủy quyền của ngu ên đơn rút to n bộ yêu cầu chia thừa kế theo qu định của pháp luật đối với 200m² đất này. Việc ngu ên đơn rút đơn khởi kiện là tự nguyện, cấp sơ thẩm đã đình chỉ nội dung khởi kiện nêu trên là phù hợp. Tuy nhiên tại phiên tòa sơ thẩm cả ngu ên đơn, bị đơn đều vắng mặt, cấp sơ thẩm áp dụng khoản 2 Điều 244 ộ luật Tố tụng dân sự để đình chỉ giải qu ết đối với việc rút êu cầu của ngu ên đơn tại phiên tòa l không đúng. Mặt khác, cấp sơ thẩm tu ên đình chỉ 200m² đất nhưng không tu ên cụ thể số thửa đất, số tờ bản đồ đối với diện tích n l có thiếu sót.
[4] Quá trình giải quyết vụ án, ngu ên đơn ông Đường Thanh yêu cầu hủy Quyết định số 2746 QĐ-UBND ngày 24/12/2020 của Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Lạng Sơn; hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Sêri CI 638841, số vào s cấp giấy CH 07638, cấp ng 08 01 2021 đã được Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Lạng Sơn cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông Mỗ Minh T và bà Hà Thị N trú tại số nhà 87, phố C, khu 3, thị trấn T, huyện T, tỉnh Lạng Sơn, đối với thửa đất số 686, tờ bản đồ địa chính số 51 xã Đ, huyện T, tỉnh Lạng Sơn, diện tích 298,3m2 đất tại Thôn N, xã Đ, huyện T, tỉnh Lạng Sơn v êu cầu ông Mỗ Minh T và bà Hà Thị N di dời căn nh nh kho trên diện tích đất 298,3m2. Bị đơn ông Đường Trọng H yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Sêri CI 638841, số vào s cấp giấy CH 07638, cấp ng 08 01 2021 đã được Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Lạng Sơn cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông Mỗ Minh T và bà Hà Thị N trú tại số nhà 87, phố C, khu 3, thị trấn T, huyện T, tỉnh Lạng Sơn, đối với thửa đất số 686, tờ bản đồ địa chính số 51 xã Đ, huyện T, tỉnh Lạng Sơn, diện tích 298,3m2 đất tại Thôn N, xã Đ, huyện T, tỉnh Lạng Sơn v êu cầu ông Mỗ Minh T và bà Hà Thị N di dời căn nh nh kho trên diện tích đất 298,3m2; hủ công văn số 1234 của UBND huyện T ngày 13/10/2020 và Quyết định số 2746 QĐ-UBND ngày 24/12/2020 của Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Lạng Sơn.
[5] Đối với yêu cầu khởi kiện của ngu ên đơn: Xét về nguồn gốc diện tích đất ông Đường Thanh H yêu cầu chia thừa kế, trước năm 1960 l đất của ông Mỗ Văn (bố đẻ của bà Mỗ Thị T) mua với ông Nông Ích Đ (có giấy mua bán ngày 16/3/1957 do Ủy ban nhân dân hành chính thị trấn T chứng thực ; năm 1960 ông Mỗ Văn đóng góp v o ợp tác xã N. Năm 1985 bà Hoàng Thị V (mẹ đẻ của ông Đường Thanh H, Đường Trọng H có đơn xin đất làm nhà ở và được UBND xã Đ, UBND huyện chấp nhận xác nhận và bố trí một phần diện tích khoảng 50m2, đến năm 1987 gia đình bà V (mẹ của ông Đường Trọng H) san ủi toàn bộ khu đất nêu trên để làm nhà ở tạm khoảng 50m2, phần diện tích còn lại gia đình b vẫn trồng rau v hoa m u cho đến năm 1990 khi hợp tác xã tan rã xảy ra tranh chấp giữa bà Mỗ Thị T (mẹ đẻ Mỗ Minh T) và bà Hoàng Thị V (mẹ đẻ ông Đường Trọng H), sau khi bà T và bà V chết thì ông Mỗ Minh T và ông Đường Trọng H tiếp tục tranh chấp.
[6] Qua nhiều lần giải quyết Ủy ban nhân dân huyện đã có Quyết định 2746 QĐ-UBND ngày 24/12/2020 và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Sêri CI 638841, số vào s cấp giấy CH 07638, cấp ngày 08/01/2021 theo hình thức “nh nước giao đất có thu tiền sử dụng đất” cho hộ ông Mỗ Minh T và bà Hà Thị N. Từ khi hộ ông Mỗ Minh T và bà Hà Thị N được UBND huyện giao đất cho đến nay UBND huyện chưa nhận được khiếu nại hay khiếu kiện gì liên quan đến việc giao đất tại Quyết định số 2746 QĐ-UBND ngày 24/12/2020 cho hộ ông Mỗ Minh T và bà Hà Thị N đối với khu đất nêu trên. Trong thời gian lập các thủ tục giao đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông Mỗ Minh T và bà Hà Thị N UBND huyện cũng không nhận được đơn thư khiếu nại, kiến nghị của ông Đường Trọng H, ông Đường Thanh H hay bất kỳ ai liên quan đến quan đến việc giao đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
[7] Do đó xác định đây không phải là di sản thừa kế của cụ ông Đường Quốc C và cụ bà Hoàng Thị V để lại, nên yêu cầu chia thừa kế của ngu ên đơn Đường Thanh H và yêu cầu của bị đơn Đường Trọng H đối với 298,3m2 thửa đất số 686, tờ bản đồ địa chính số 51 xã Đ tại Thôn N, xã Đ, huyện T và yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Sêri CI 638841, số vào s cấp giấy CH 07638, cấp ngày 08/01/2021 cho hộ ông Mỗ Minh T và bà Hà Thị N, yêu cầu ông Mỗ Minh T và bà Hà Thị N tháo dỡ, di dời căn nh kho đã xâ dựng ra khỏi diện tích tranh chấp l không có căn cứ để xem xét giải quyết, vì phạm vi giải quyết vụ án là chia di sản thừa kế, những nội dung không phải chia di sản thừa kế thì không được xem xét giải quyết. Tòa án sơ thẩm không thụ lý giải quyết yêu cầu b sung của ngu ên đơn, êu cầu độc lập bị đơn l đúng qu định. o đó kháng cáo của ngu ên đơn về đề nghị sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận to n bộ êu cầu khởi kiện của ngu ên đơn theo Đơn khởi kiện sửa đ i, b sung ng 06 9 2023 của ngu ên đơn l không có cơ sở để chấp nhận.
[8] Tại khoản 1 Điều 34 của ộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 qu định: “1. Khi giải quyết vụ việc dân sự, Tòa án có quyền hủy quyết định cá biệt trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự trong vụ việc dân sự mà Tòa án có nhiệm vụ giải quyết”. Như vậy, xem xét hủy quyết định cá biệt không phải là yêu cầu của đương sự. Mặt khác, dù đương sự không yêu cầu thì trách nhiệm của Tòa án khi giải quyết vụ việc dân sự vẫn phải xem xét về quyết định cá biệt. Tuy nhiên, tại Bản án sơ thẩm đã nhận định là không xem xét giải quyết đối với các nội dung nêu trên l đúng qu định pháp luật, nhưng trong phần quyết định của Bản án sơ thẩm lại tu ên l “không xem xét” l không đúng qu định, vượt quá phạm vi giải quyết vụ án vì đâ l quan hệ pháp luật “tranh chấp quyền sử dụng đất” không liên quan đến “chia di sản thừa kế” trong vụ án này. Vì vậy cần hủy và đình chỉ các nội dung mà cấp sơ thẩm đã tu ên không xem xét tại phần quyết định của bản án sơ thẩm liên quan đến diện tích 298,3m2 thửa đất số 686, tờ bản đồ địa chính số 51 xã Đ tại Thôn N, xã Đ, huyện T và yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Sêri CI 638841, số vào s cấp giấy CH 07638, cấp ngày 08/01/2021 cho hộ ông Mỗ Minh T và bà Hà Thị N, yêu cầu ông Mỗ Minh T và bà Hà Thị N tháo dỡ, di dời căn nh kho đã xâ dựng ra khỏi diện tích tranh chấp. Việc hủy các nội dung này không làm ảnh hưởng hoặc tha đ i bản chất sự việc và nội dung vụ án. Trường hợp có tranh chấp về quyền sử dụng đất hoặc không đồng ý với quyết định h nh chính, h nh vi h nh chính thì các đương sự có quyền khởi kiện vụ án dân sự khác theo qu định của Bộ luật Tố tụng dân sự hoặc khởi kiện vụ án h nh chính theo qu định của Luật Tố tụng hành chính. Do phạm vi vụ án n l “chia di sản thừa kế” nên To án cấp sơ thẩm không xác định UBND xã Đ, huyện T, hi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện T và Chủ tịch UBND huyện T l người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vụ án là phù hợp. Việc người đại diện theo uỷ quyền của ngu ên đơn cho rằng cấp sơ thẩm vi phạm tố tụng khi đưa thiếu người có quyền lợi liên quan l không có căn cứ, vì vậ kháng cáo đề nghị huỷ toàn bộ bản án sơ thẩm để xét xử lại của ngu ên đơn l không có cơ sở để chấp nhận.
[9] Đối với một phần thửa đất số 375, diện tích 58,3m2 tờ bản đồ địa chính số 51 xã Đ, địa chỉ Thôn N, xã Đ, huyện T, tỉnh Lạng Sơn, xác định đâ l di sản của cụ Hoàng Thị V để lại, vì Năm 1985 b Hoàng Thị V có đơn xin đất làm nhà ở v được UBND xã Đ, UBND huyện chấp nhận xác nhận và bố trí một phần diện tích khoảng 50m2, na đo đạc diện tích cụ thể là 58,3m2 hiện ông Đường Trọng H đang quản lý sử dụng, trên đất có căn nh cấp 4 của hộ ông Đường Trọng H. Tại bản tự khai của ngu ên đơn, bị đơn đều thừa nhận diện tích 58,3m2 là di sản của cụ Hoàng Thị V để lại, người đại diện theo ủy quyền của bị đơn không chấp nhận việc ngu ên đơn êu cầu chia thừa kế đối với diện tích 58,3m2 l không có căn cứ, chính anh Đường Tuấn Đ tại cấp sơ thẩm cũng thừa nhận diện tích 58,3m2 là bố mẹ bị đơn để lại cho bị đơn. Xác định hàng thừa kế của cụ Hoàng Thị Vần gồm có 02 người là ông Đường Thanh H và ông Đường Trọng H, cấp sơ thẩm chia di sản thừa kế đối với diện tích đất trên và cho ông Đường Thanh H, ông Đường Trọng H, bị đơn có qu ền quản lý, sử dụng diện tích đất trên là phù hợp và có căn cứ bởi trên đất đã có nh cấp 4 của bị đơn xâ dựng trên đó từ lâu và cả gia đình bị đơn hiện cũng đang sinh sống tại đâ .
[10] Tuy nhiên, Toà án cấp sơ thẩm tu ên giao to n bộ diện tích trên cho bị đơn quản lý sử dụng và buộc bị đơn phải thanh toán ½ giá trị t i sản cho ngu ên đơn, không xem xét đến công sức trông coi, giữ gìn, quản lý di sản l chưa đảm bảo qu ền v lợi ích của bị đơn. o bị đơn có quá trình, trông coi, chăm sóc, gìn giữ, quản lý di sản thừa kế nên cần chia cho bị đơn phần di sản thừa kế nhiều hơn ngu ên đơn, ội đồng xét xử nhận thấ cần giao toàn bộ diện tích 58,3m2 cho hộ gia đình bị đơn quản lý, sử dụng, bị đơn có trách nhiệm thanh toán giá trị phần tài sản ngu ên đơn được chia, được hưởng tương ứng với 40% giá trị tài sản là phù hợp. Xác định số tiền bị đơn cần thanh toán cho nguyên đơn l 466.400.000đồng (bốn trăm bốn sáu triệu bốn trăm đồng).
[11] Ngoài ra, việc cấp sơ thẩm tu ên giao đất cho bị đơn l không đúng thẩm qu ền về giao đất theo qu định của pháp luật đất đai; nh cấp 4 hộ gia đình bị đơn hiện đang sinh sống, tại phần nhận định ản án đã xác định cần giao diện tích đất 58,3m2 cho hộ gia đình bị đơn quản lý, sử dụng nhưng tại phần qu ết định chỉ tu ên cho cá nhân bị đơn quản lý, sử dụng l chưa đầ đủ.
[12] Về án phí sơ thẩm: Do yêu cầu của ngu ên đơn được chấp nhận một phần nên ngu ên đơn v bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và án phí dân sự có giá ngạch tương ứng với giá trị tài sản được chia theo qu định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự v Điều 24, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủ ban thường vụ Quốc hội. Tuy nhiên bị đơn đã có đơn xin miễn án phí do l người cao tu i, cấp sơ thẩm vẫn buộc bị đơn phải chịu án phí có giá ngạch l không đúng qu định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
[13] Từ những nhận định trên nhận thấy, không cần thiết phải hủy toàn bộ bản án sơ thẩm, cần hủy v đình chỉ một phần bản án sơ thẩm liên quan đến diện tích đất 298,3m2 thửa đất số 686, tờ bản đồ địa chính số 51 xã Đ tại Thôn N, xã Đ, huyện T và yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Sêri CI 638841, số vào s cấp giấy CH 07638, cấp ngày 08/01/2021 cho hộ ông Mỗ Minh T và bà Hà Thị N, yêu cầu ông Mỗ Minh T và bà Hà Thị N tháo dỡ, di dời căn nh kho đã xâ dựng ra khỏi diện tích tranh chấp. Các nội dung khác của bản án cần sửa bản án sơ thẩm theo những nhận định nêu trên.
[14] Về án phí phúc thẩm: Do sửa án sơ thẩm nên người kháng cáo không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo qu định tại khoản 2 Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủ ban thường vụ Quốc hội qu định về án phí, lệ phí Tòa án. Trả lại cho ông Đường Thanh H số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) đã nộp tại biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001786 ngày 25/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện T, tỉnh Lạng Sơn.
[15] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lạng Sơn l có căn cứ pháp lý, phù hợp với các qu định của pháp luật nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
ăn cứ vào khoản 2 Điều 148; điểm b khoản 1 Điều 289; Điều 295; khoản 2, 4 Điều 308; Điều 309 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
ăn cứ khoản 5 Điều 26; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; điểm g khoản 1 Điều 217, Điều 147; khoản 1 Điều 157; Điều 158; Điều 227; Điều 228; Điều 238; Điều 271; Điều 272; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; ăn cứ Điều 612, Điều 618, Điều 649, Điều 650, Điều 651 ộ luật Dân sự năm 2015;
ăn cứ điểm b khoản 1 Điều 24; điểm a, khoản 7 Điều 27, khoản 2 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khoá 14 qu định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án,
Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu yêu cầu kháng cáo của bị đơn ông Đường Trọng H
Không chấp nhận kháng cáo của ngu ên đơn ông Đường Thanh H; chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lạng Sơn.
I. Hủ v đình chỉ:
1. Yêu cầu của ông Đường Thanh về việc hủy Quyết định số 2746 QĐ-UBND ngày 24/12/2020 của Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Lạng Sơn; hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Sêri CI 638841, số vào s cấp giấy CH 07638, cấp ng 08 01 2021 đã được Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Lạng Sơn cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông Mỗ Minh T và bà Hà Thị N trú tại số nhà 87, phố C, khu 3, thị trấn T, huyện T, tỉnh Lạng Sơn, đối với thửa đất số 686, tờ bản đồ địa chính số 51 xã Đ, huyện T, tỉnh Lạng Sơn, diện tích 298,3m2 đất tại Thôn N, xã Đ, huyện T, tỉnh Lạng Sơn v êu cầu ông Mỗ Minh T và bà Hà Thị N di dời căn nh , nhà kho trên diện tích đất 298,3m2.
2. Yêu cầu của ông Đường Trọng H về việc hủ công văn số 1234 của UBND huyện T ngày 13/10/2020 và Quyết định số 2746 QĐ-UBND ngày 24/12/2020 của Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Lạng Sơn; hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Sêri CI 638841, số vào s cấp giấy CH 07638, cấp ngày 08 01 2021 đã được Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Lạng Sơn cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông Mỗ Minh T và bà Hà Thị N trú tại số nhà 87, phố C, khu 3, thị trấn T, huyện T, tỉnh Lạng Sơn, đối với thửa đất số 686, tờ bản đồ địa chính số 51 xã Đ, huyện T, tỉnh Lạng Sơn, diện tích 298,3m2 đất tại Thôn N, xã Đ, huyện T, tỉnh Lạng Sơn v êu cầu ông Mỗ Minh T và bà Hà Thị N di dời căn nh nh kho trên diện tích đất 298,3m2;
Đương sự có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết lại nội dung đình chỉ theo qu định của pháp luật.
II. Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số: 02/2023/DS-ST ngày 01/12/2023 của Tòa án nhân dân huyện Tr ng Định, tỉnh Lạng Sơn, cụ thể:
1. Đình chỉ giải quyết toàn bộ yêu cầu của ông Đường Thanh H yêu cầu chia thừa kế đối với diện tích 200m² đất thuộc thửa đất số 16, tờ bản đồ số 15, bản đồ địa chính thị trấn T đo vẽ năm 1999; địa chỉ thửa đất tại số 35, đường 10/10, khu 2, thị trấn T, huyện T, tỉnh Lạng Sơn.
Ông Đường Thanh H có quyền khởi kiện trong vụ án khác nếu có yêu cầu.
2. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ngu ên đơn ông Đường Thanh H, cụ thể:
Xác định diện tích 58,3m2 thuộc một phần thửa đất số 375, tờ bản đồ địa chính số 51 xã Đ, địa chỉ thửa đất tại Thôn N, xã Đ, huyện T, tỉnh Lạng Sơn l di sản thừa kế của bà Hoàng Thị V.
Thửa đất có các điểm, vị trí tiếp giáp: Phía Đông giáp với vỉa hè Quốc lộ 3B (N độ dài cạnh: B-C= 5,04m; phía Tây giáp với đường ngõ, độ dài các cạnh E-F = 6,45m, D-E = 1,01m; phía nam giáp với đường ngõ bê tông, độ dài cạnh C-D = 9,94m; phía Bắc với nhà kho của ông Mỗ Minh T (thửa đất số 686 , độ dài cạnh F-B = 14,95m.
(Có mảnh trích đo khu đất đang tranh chấp số Đ 28/2022 ngày 20/4/2022 do đơn vị đo đạc Công ty Cổ phần tư vấn tài nguyên số 1 Lạng Sơn thực hiện kèm theo).
Xác định những người được hưởng thừa kế theo pháp luật của b o ng Thị V l ông Đường Thanh v ông Đường Trọng .
2.1. Về quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản trên đất
Hộ gia đình ông Đường Trọng H gồm ông Đường Trọng H, bà Lộc Thị K và anh Đường Tuấn Đ được quyền quản lý, sử dụng diện tích 58,3m2 nằm trong một phần thửa đất số 375, tờ bản đồ địa chính số 51 xã Đ, địa chỉ thửa đất tại Thôn N, xã Đ, huyện T, tỉnh Lạng Sơn cùng tài sản trên đất l căn nh cấp 4 (các điểm, vị trí tiếp giáp của thửa đất như đã nêu tại mục 2).
Ông Đường Trọng H có trách nhiệm liên hệ với ơ quan chu ên môn l m thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo qu định của Luật đất đai.
2.2. Về trách nhiệm thanh toán giá trị phần tài sản được chia, được hưởng trong khối di sản thừa kế
Ông Đường Trọng H có trách nhiệm thanh toán giá trị phần tài sản ông Đường Thanh H được chia, được hưởng số tiền là 466.400.000đồng (bốn trăm bốn sáu triệu bốn trăm đồng).
3. Về chi phí tố tụng: Ông Đường Thanh H và ông Đường Trọng H phải chịu toàn bộ chi phí thẩm định tại chỗ v định giá tài sản, chi phí đo đạc với t ng số tiền l 13.049.000 đồng (mười ba triệu, không trăm bốn mươi chín nghìn đồng), mỗi người phải chịu 6.547.000 đồng (Sáu triệu, năm trăm bốn mươi bẩy nghìn) đồng. Ông Đường Trọng H phải thanh toán cho ông Đường Thanh số tiền 6.547.000 đồng (sáu triệu, năm trăm bốn mươi bẩ nghìn đồng) mà ông Đường Thanh H đã nộp.
4. Về nghĩa vụ chịu lãi chậm trả
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ng có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi h nh án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án cho đến khi thi hành xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có qu định khác.
5. Về án phí:
5.1 Án phí sơ thẩm:
Ông Đường Thanh H phải chịu 22.656.000 đồng (hai mươi hai triệu sáu trăm năm mươi sáu nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch để nộp ngân sách Nh nước, xác nhận ông Đường Thanh H đã nộp 7.500.000 đồng (bẩy triệu năm trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số AA/2021/0006278 ngày 19/11/2021 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện T, tỉnh Lạng Sơn, ông Đường Thanh H phải nộp tiếp 15.156.000 đồng (mười lăm triệu một trăm năm mươi sáu nghìn đồng); ông Đường Trọng H được miễn nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm.
5.2. Án phí phúc thẩm:
Ông Đường Thanh H và ông Đường Trọng H không phải chịu tiền án phí dân sự phúc thẩm. Hoàn trả ông Đường Thanh H số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghin đồng) tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện T, tỉnh Lạng Sơn theo iên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0001786 ngày 25/12/2023.
Trường hợp bản án được thi h nh theo qu định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi h nh án theo qu định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi h nh án được thực hiện theo qu định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - TAND cấp cao tại Hà Nội; - VKSND cấp cao tại Hà Nội; - VKSND tỉnh Lạng Sơn; - TAND huyện Tr ng Định, tỉnh LS; - CCTHADS huyện T, tỉnh LS; - ác đương sự; - HCTP; P.KTNV&THA; - Lưu hồ sơ vụ án, Tòa dân sự. CÁC THẨM PHÁN THÀNH VIÊN Lộc Sơn Thái Vi Đức Trí | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ (Đã ký) Phùng Đức Chính THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phùng Đức Chính |