- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Nguyễn Trọng D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ UÔNG BÍ TỈNH QUẢNG NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 23/2023/HSST Ngày: 06/4/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ UÔNG BÍ - TỈNH QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: ông Trần Anh Đức;
Các Hội thẩm nhân dân: bà Phạm Thị Dung và bà Vũ Thị Xuyến;
- Thư ký phiên tòa: ông Lê Trung Nghĩa - Thư ký Tòa án Nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Quốc An – kiểm sát viên.
Ngày 06/4/2023, tại hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 22/2023/HSST ngày 20/3/2023 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 23/2023/QĐXXST-HS ngày 23/3/2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Trọng D; sinh ngày 01/02/1991 tại huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình; giới tính: nam; nơi thường trú tại tổ 1, khu 10b, phường Q, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; nghề nghiệp: tự do; học vấn: 9/12; bố là ông Nguyễn Trọng D và mẹ là bà Nguyễn Thị T; gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: ngày 13/5/2014 bị Tòa án nhân dân huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thi hành xong phần dân sự của bản án vào ngày 10/9/2014, thi hành xong hình phạt tù ngày 21/7/2014. Bị cáo bị bắt quả tang ngày 22/12/2022, hiện tạm giam tại nhà tạm giữ Công an thành phố Uông Bí, có mặt tại phiên tòa;
- Người làm chứng:
+ Anh Vũ Tiến Đ, sinh năm 1990, trú tại tổ 19, khu Bí Giàng, phường Y, thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt;
+ Anh Nguyễn Xuân L, sinh năm 1986, trú tại thôn Năm Mẫu 2, xã T, thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 08 giờ 00 phút ngày 22/12/2022, tại tổ 23A, khu Phú Thanh Đông, phường Yên Thanh, thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh, Nguyễn Trọng D bị bắt quả tang khi đang có hành vi tàng trữ trái phép 0,224 gam ma túy loại Heroine, mục đích để sử dụng.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai: khoảng 7 giờ 45 phút ngày 22/12/2022, do có nhu cầu sử dụng ma túy Heroine, bị cáo gọi điện thoại cho một người đàn ông không rõ lai lịch địa chỉ mà bị cáo biết là có ma túy bán do bạn bè giới thiệu, bị cáo hỏi mua 200.000 đồng và được người này đồng ý, họ hẹn gặp bị cáo ở khu vực cầu Đá Bạc thuộc phường Phương Nam, thành phố Uông Bí. Sau đó bị cáo đón taxi đến khu vực trên rồi xuống xe gặp người bán ma túy, họ đưa cho bị cáo 01 túi nilon màu trắng chứa ma túy, bị cáo xin nợ tiền thì họ đồng ý. Sau đó bị cáo cất túi ma túy này ở túi áo ngực phía trong bên trái đang mặc rồi lên xe taxi đi đến khu vực ngã tư đèn tín hiệu giao thông đoạn đường đi bệnh viện Việt Nam – Thụy Điển để tìm chỗ sử dụng. Khi bị cáo xuống xe thì bị cơ quan chức năng bắt quả tang thu giữ số ma túy trên.
Quá trình điều tra ngoài số ma túy bị thu giữ, bị cáo bị thu giữ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu đen, bên trong gắn sim số 0866.383.078, đây là điện thoại và sim số bị cáo liên lạc hỏi mua ma túy.
Tại phiên tòa bị cáo rất ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Người làm chứng là anh Vũ Tiến Đỉnh và anh Nguyễn Xuân Long vắng mặt tại phiên tòa nhưng trong quá trình điều tra có lời khai phù hợp với lời khai của bị cáo, phù hợp với tài liệu cơ quan điều tra thu thập được.
Tại bản kết luận giám định số 2088/KL-KTHS ngày 28/12/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh kết luận: mẫu vật gửi giám định là ma túy, loại Heroine, khối lượng 0,224 gam.
Tại cáo trạng số 22 ngày 17/3/2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí truy tố bị cáo Nguyễn Trọng D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Trọng D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và đề nghị:
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 và điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Trọng D từ 12 đến 15 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ 22/12/2022.
- Áp dụng điểm a, c, khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
+ Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong số 2088/KL-KTHS chứa mẫu vật hoàn lại sau giám định và 01 phôi sim số 0866.383.078;
+ Tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu đen, màn hình bị nứt vỡ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về tố tụng: Cơ quan điều tra Công an thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, do đó, hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.
Về tội danh: Xét lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa về cơ bản giống với nội dung cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí đã truy tố đối với bị cáo, phù hợp với lời khai của những người làm chứng, phù hợp với các chứng cứ cơ quan điều tra đã thu thập được, vì vậy đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 08 giờ 00 phút ngày 22/12/2022, tại tổ 23A, khu Phú Thanh Đông, phường Yên Thanh, thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh, Nguyễn Trọng D bị bắt quả tang khi đang có hành vi tàng trữ trái phép 0,224 gam ma túy loại Heroine, mục đích để sử dụng.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy. Chất ma túy là chất kích thích gây nghiện nguy hiểm cho xã hội nên việc quản lý, sử dụng chất ma túy phải tuân theo các quy định của pháp luật, trong vụ án này bị cáo là người thành niên, có đầy đủ khả năng nhận thức, biết rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội nhưng vẫn cố ý phạm tội.
Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Việc truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí đối với bị cáo Nguyễn Trọng D là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Về hình phạt:
Hình phạt chính:
Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết tăng nặng: Không.
Về nhân thân: ngày 13/5/2014 bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thi hành xong phần dân sự của bản án vào ngày 10/9/2014, thi hành xong hình phạt tù ngày 21/7/2014.
Sau khi xem xét hành vi phạm tội cùng nhân thân, tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo Nguyễn Trọng D, Hội đồng xét xử thấy rằng bị cáo là người có nhân thân xấu, bị cáo đã từng bị tòa án kết án về hành vi vi phạm pháp luật nhưng không lấy đó làm bài học tu dưỡng bản thân mà vẫn tiếp tục phạm tội, vì vậy, Hội đồng xét xử thấy cần phải có một mức án nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, cần cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để đảm bảo tính răn đe giáo dục đối với bị cáo nói riêng và đảm bảo tính phòng ngừa tệ nạn ma túy trong xã hội nói chung.
Tuy nhiên, trong quá trình lượng hình, Hội đồng xét xử cũng xem xét đến việc bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải để giảm nhẹ một phần hình phạt, để từ đó bị cáo thấy được chính sách khoan hồng của Đảng và Nhà nước ta.
Về hình phạt bổ sung: khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự quy định người phạm tội có thể bị phạt tiền, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng vụ án: Quá trình điều tra thu giữ của bị cáo 0,224 gam ma túy loại Heroine, sau khi giám định được hoàn lại trong phong bì niêm phong số 2088 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Quảng Ninh, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone lắp sim số 0866.383.078.
Xét thấy: Số ma túy hoàn lại sau giám định là vật cấm tàng trữ lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy. Đối với điện thoại di động bị cáo dùng liên lạc mua ma túy nên cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước, sim số 0866.383.078 bị cáo dùng liên lạc mua ma túy không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với người đàn ông bán ma túy cho bị cáo, hiện không rõ lai lịch địa chỉ nên không có căn cứ xử lý.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn luật định.
Bị cáo phải nộp án phí theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Nguyễn Trọng D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Trọng D 13 (mười ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 22/12/2022.
Về vật chứng:
Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong số 2088/KL-KTHS của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Quảng Ninh bên trong chứa ma túy hoàn lại sau giám định. Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone vỏ màu đen, màn hình và mặt phía sau điện thoại bị nứt vỡ. Tịch thu tiêu hủy 01 sim số 0866.383.078.
(Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng ngày 20/3/20223 giữa Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Uông Bí và Cơ quan Cảnh sát điều tra
- Công an thành phố Uông Bí)
Về án phí:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:
Buộc bị cáo Nguyễn Trọng D phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm vào ngân sách nhà nước.
Về quyền kháng cáo:
Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự:
Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo. Báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND Tp. Uông Bí; - Cơ quan CSĐT Công an Tp. Uông Bí; - Chi cục THADS Uông Bí; - Cơ quan THAHS Công an Tp. Uông Bí; - Nhà tạm giữ Công an Tp. Uông Bí; - VKSND tỉnh Quảng Ninh; - TAND tỉnh Quảng Ninh; - Sở tư pháp; - Lưu hồ sơ. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Trần Anh Đức |