vanban.org

Bản án 23/2023/HSST — Hình sự

TAND TP. Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh Tuyên án 07/03/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: bị cáo Bùi Văn D, phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Bùi Văn D 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ 23/11/2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn D - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Bùi Văn D, phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ MÓNG CÁI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH QUẢNG NINH
Bản án số: 23/2023/HSST
Ngày: 07/3/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MÓNG CÁI, TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: bà Đỗ Thị Thanh Huệ.

Các Hội thẩm nhân dân: bà Đỗ Thị Hân.

ông Phạm Quốc Hưng.

- Thư ký phiên tòa: ông Nguyễn Ngọc Lâm, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Thu Hằng, Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 14/2023/TLST- HS ngày 20 tháng 2 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2023/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 02 năm 2023 đối với bị cáo:

Bùi Văn D (tên gọi khác: không); sinh ngày 23/6/1992, tại: An Dương, Hải Phòng;

Nơi đăng ký thường trú: thôn Phạm Dùng, xã A, huyện A, thành phố H; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Bùi Văn H và bà Nguyễn Thị M; tiền án, tiền sự: chưa; bị bắt quả tang ngày 23/11/2022 hiện tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh. Có mặt.

Người chứng kiến: anh Hoàng Văn C, sinh năm 1970. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do có nhu cầu sử dụng ma tuý nên trưa ngày 19/11/2022, Bùi Văn D gọi điện thoại cho người đàn ông tên là T (không rõ lai lịch, địa chỉ) nhờ mua giúp ma túy “đá” để sử dụng. Khoảng 21 giờ cùng ngày, T gọi điện thoại lại cho D hẹn đến khu vực cầu Tràng Vinh thuộc khu 7, phường H, thành phố M để đưa tiền đi mua ma túy. D đến điểm hẹn gặp và đưa cho T số tiền 1.000.000đ (một triệu đồng). Đến khoảng 16 giờ ngày 23/11/2022, T gọi điện thoại cho D hẹn buổi tối cùng ngày sẽ giao ma túy. Sau đó, D nhận được điện thoại của một người đàn ông (không rõ lai lịch, địa chỉ) giới thiệu là em của T và hẹn D đến khu vực cầu Tràng Vinh để nhận ma túy. Khoảng 22 giờ 20 phút cùng ngày, D đi đến điểm hẹn gặp người đàn ông gọi điện cho D trước đó, người đàn ông chỉ cho D vị trí cất giấu ma túy là ở trên nóc tôn của chuồng chó gần đó, rồi điều khiển xe bỏ đi. Theo chỉ dẫn, D tìm lấy được 01 vỏ bao thuốc lá màu vàng bên trong có túi ma túy, cầm ở bàn tay phải, chuẩn bị đi về phòng trọ để sử dụng, thì bị Tổ công tác của Công an phường H phối hợp với Công an xã Q thành phố M phát hiện, bắt quả tang. Thu giữ của Dũng: 01 (một) vỏ bao thuốc lá màu vàng bên trong chứa chất tinh thể màu trắng, 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO gắn sim số 0985.604.053 và 0773.255.112.

Tại bản Kết luận giám định số 1905/KL - KTHS ngày 29/11/2022, của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh kết luận: mẫu vật thu giữ của Bùi Văn D gửi giám định là ma túy, loại: Methamphetamine; khối lượng: 0,194 gam (không phẩy một chín tư gam).

Quá trình điều tra bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Người chứng kiến anh Hoàng Văn C trong quá trình điều tra có lời khai thể hiện: khoảng 22 giờ 20 phút ngày 23/11/2022, khi anh Cung đang trên đường đi từ xã H về nhà, đến km283 + 200 QL.18, thuộc khu 7, phường H, thành phố M thì được lực lượng Công an thành phố Móng Cái mời chứng kiến việc kiểm tra 01 (một) người nam thanh niên. Khi lực lượng Công an hỏi nam thanh niên trên về lai lịch thì khai tên là Bùi Văn D, sinh năm 1992, địa chỉ ở thôn Phạm Dùng, xã A, huyện A, thành phố H và hiện đang ở trọ tại khu 5, phường H, thành phố M. Quá trình kiểm tra, lực lượng Công an yêu cầu D nhặt một vỏ bao thuốc lá ở dưới đất rồi mở ra để kiểm tra, bên trong có 01( một ) gói giấy màu trắng, trong gói giấy có 01 (một) túi nilon chứa chất tinh thể màu trắng. D khai nhận chất tinh thể màu trắng trong túi nilon là ma tuý “Đá”, D mua được của một người đàn ông tên T với giá 1.000.000đ (một triệu đồng) để nhằm mục đích sử dụng. Sau đó, lực lượng Công an đã thu giữ vỏ bao thuốc lá, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng. Ngoài ra, lực lượng Công an còn tạm giữ của D 01 (một) điện thoại di động Oppo màu xanh.

Bản Cáo trạng số: 23/CT - VKSMC ngày 20/02/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh đã truy tố bị cáo Bùi Văn D, về tội:“Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà: bị cáo khai lại toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung vụ án và quá trình điều tra.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo như nội dung Cáo trạng và đề nghị với Hội đồng xét xử:

Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Bùi Văn D từ 15 (mười lăm) tháng đến 18 (mười tám) tháng tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 23/11/2022.

Về hình phạt bổ sung: không áp dụng hình phạt bổ sung.

Về vật chứng và xử lý vật chứng:

Áp dụng: điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, màu xanh, bên trong lắp 02 sim, thu giữ của Bùi Văn D.

- Tịch thu tiêu hủy: 0,14 gam ma tuý Methamphetamine được hoàn lại sau giám định cùng toàn bộ vỏ bao gói; 01 vỏ bao thuốc lá màu vàng và 01 mảnh phong bì trắng.

Bị cáo không tranh luận với lời luận tội của Đại diện Viện kiểm sát và không nói lời sau cùng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Móng Cái, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Nhận định của Hội đồng xét xử về những chứng cứ xác định bị cáo có tội. Đánh giá nội dung Biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 23/11/2022; các lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa; lời khai của người chứng kiến; trên cơ sở Kết luận giám định số 1905/KL-KTHS ngày 29/11/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án; Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở kết luận: khoảng 22 giờ 20 phút ngày 23/11/2022, tại khu 7, phường H, thành phố M, Bùi Văn D có hành vi cất giấu trái phép 0,194 (không phẩy một chín tư) gam Methamphetamine để sử dụng, thì bị phát hiện, bắt quả tang.

Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi do lỗi cố ý, xâm phạm đến chính sách của Nhà nước về quản lý các chất ma túy. Do đó, hành vi nêu trên của bị cáo Bùi Văn D đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Như vậy, quan điểm truy tố và luận tội của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái là có căn cứ pháp lý.

[3] Xét tính chất, mức độ của hành vi là nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự, an ninh xã hội ở địa phương. Đây còn là nguyên nhân gây các loại tội phạm khác, gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân. Mặc dù nhận thức rõ tác hại của ma túy, nhưng để thỏa mãn nhu cầu nghiện ma túy của bản thân bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi. Vì vậy, cần xử lý nghiêm và cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian, mới có thể cải tạo bị cáo thành người có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời phục vụ công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, phòng ngừa chung.

Về áp dụng tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, hình phạt bổ sung.

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

- Về hình phạt bổ sung: theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự, người phạm tội còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo không có công việc ổn định, không có thu nhập ổn định. Vì vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng và xử lý vật chứng:

- 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu hiệu Oppo, màu xanh, bên trong lắp 02 sim, thu giữ của bị cáo sử dụng vào việc phạm tội, nên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

- 0,14 gam ma tuý Methamphetamine được hoàn lại sau giám định kèm theo Kết luận giám định số 1905/KLGĐ ngày 29/11/2022 chứa trong một phong bì số 1905/GĐMT được niêm phong theo đúng quy định, là vật Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định.

- 01 vỏ bao thuốc lá màu vàng và 01 mảnh phong bì trắng; cùng toàn bộ vỏ bao gói không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

Về nghĩa vụ chịu án phí hình sự sơ thẩm: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Liên quan trong vụ án có người đàn ông tên Tuấn và người đàn ông đã bán ma túy cho bị cáo, quá trình điều tra không xác minh được lai lịch địa chỉ nên không có căn cứ xử lý.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: bị cáo Bùi Văn D, phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Bùi Văn D 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ 23/11/2022.

2. Về vật chứng và xử lý vật chứng:

Áp dụng: điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, màu xanh, bên trong lắp 02 sim, thu giữ của Bùi Văn Dũng.

- Tịch thu tiêu hủy: 0,14 gam ma tuý Methamphetamine được hoàn lại sau giám định cùng toàn bộ vỏ bao gói; 01 vỏ bao thuốc lá màu vàng và 01 mảnh phong bì trắng.

(Vật chứng trên hiện do Chi cục thi hành án dân sự thành phố Móng Cái quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng số 60/2023/THA, ngày 21/02/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Móng Cái).

3. Về án phí:

Áp dụng: khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của y ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Bùi Văn D phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo:

Áp dụng: khoản 1 Điều 331 và khoản 1 Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Án xử sơ thẩm công khai có mặt bị cáo, bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ