vanban.org

Bản án 23/2023/HSST — Hình sự

TAND huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai Tuyên án 23/08/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Ngô Văn A phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử: Phạt bị cáo Ngô Văn A 12 (Mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 24 tháng tính từ ngày tuyên án hôm nay (ngày 23/8/2023). Giao bị cáo Ngô Văn A cho Ủy ban nhân dân xã Ia Peng, huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai quản lý, giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Ngô Văn Ánh - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Ngô Văn A phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÚ THIỆN
TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 23/2023/HSST
Ngày 23/8/2023

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ THIỆN TỈNH GIA LAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Ksor Jưh

- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hồ Như Vương,

Ông Rmah Ét.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Thảo – Thư ký Toà án nhân dân huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai tham gia phiên toà : Ông Vi Văn Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 8 năm 2023 tại Tòa án nhân dân huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 18/2023/TLST-HS ngày 17 tháng 7 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 23/QĐXXST-HS ngày 09/8/2023 đối với bị cáo:

Ngô Văn A, sinh năm 1991, tại Gia Lai Nơi cư trú: Thôn Thanh Trang, xã IP, huyện PT, huyện PT, tỉnh Gia Lai; nghề nghiệp: làm nông; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngô Văn D và bà Đinh Thị T; Vợ: Tống Thị H và 03 con, con lớn nhất sinh năm 2011, con nhỏ nhất sinh năm 2020; tiền sự, tiền án: Không. Bị cáo không bị tạm giam, tạm giữ; Bị cáo hiện đang tại ngoại. Có mặt.

- Người đại diện hợp pháp cho bị hại Nguyễn Thị S: Anh Nguyễn Văn S, sinh năm 1991. (Con ruột bị hại)

Địa chỉ: Thôn Ia Jut, xã IS, huyện PT, tỉnh Gia Lai. Có đơn xin vắng mặt.

- Người làm chứng: Anh Nguyễn Văn T1, sinh năm 1983.

Địa chỉ: Thôn Ia Jut, xã IS, huyện PT, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 h00‟ ngày 11/02/2023, Ngô Văn A, sinh năm 1991 (trú tại Thôn Thanh Trang, xã IP, PT, Gia Lai) điều khiển xe ô tô bán tải màu đỏ biển số 81C-122.92 lưu thông trên đường Quốc lộ 25 hướng (CS đi AP). Khi đến đoạn đường thuộc địa phận Thôn Ia Jut, xã IS, PT, Gia Lai thì A phát hiện xe mô tô biển số 81T4-8861 do bà Nguyễn Thị S điều khiển đang lưu thông cùng chiều phía trước. Lúc này, A điều khiển xe lấn sang phần đường bên trái theo hướng đi để vượt xe bà S. Trong lúc đang vượt thì bà S chuyển hướng sang phần đường bên trái làm A xử lý không kịp nên xe của A tông trúng xe bà S dẫn đến tai nạn giao thông. Hậu quả, bà Nguyễn Thị S bị thương nặng. Đến ngày 13/02/2023, bà Nguyễn Thị S chết khi đang được cấp cứu tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Gia Lai.

Kết quả khám nghiệm hiện trƣờng, xác định:

Hiện trường xảy ra vụ tai nạn giao thông tại đường Quốc lộ 25 thuộc địa phận Thôn Ia Jut, xã IS, PT, Gia Lai. Là đoạn đường thẳng, mặt đường trải nhựa rộng 7,70m, có vạch kẻ sơn tim đường đứt quãng, lề đường bên phải rộng 2,30m, lề đường bên trái rộng 2,10m tính theo hướng (CS đi AP).

Tiến hành khám chi tiết: Các dấu vết, phương tiện để lại tại hiện trường được đo vẽ lấy mép đường bên phải, hướng (CS đi AP), phát hiện:

- Xe mô tô biển số 81T4-8861 (1) nằm ngã nghiên bên trái trên mặt đường, đầu xe quay hướng AP, đuôi xe quay hướng CS. Tâm trục bánh xe trước cách mép đường 2,50m, tâm trục bA xe sau cách mép đường 2,90m. Trên yên xe có 01 giỏ hàng bằng tre kích thước (60x30)cm.

- Xe ô tô bán tải biển số 81C-122.92 (2) đứng yên, đầu xe quay hướng AP, đuôi xe quay hướng CS. Bánh xe trước và sau bên phải nằm trên mặt đường, bánh xe trước và sau bên trái nằm trên lề đường đất. Tâm trục bánh xe trước bên phải cách mép đường là 7,55m, tâm trục bánh xe sau bên phải cách mép đường là 7,60m. Từ tâm trục bánh xe sau bên phải đến tâm trục bánh trước xe mô tô (1) là 15,55m.

- Vết cày dài 2,95m (3) nằm trên trên mặt đường, chiều hướng (CS đi AP). Đầu vết cách mép đường 3,75m, cuối vết trùng với gác để chân trước bên trái xe mô tô (1).

- Diện mảnh vỡ diện (4,0 x 1,80)m (4) nằm trên trên mặt đường, tâm vết cách mép đường 5,50m và cách tâm trục trước bánh xe mô tô (1) là 4,50m đồng thời cách tâm trục sau bánh xe bên phải của xe ô tô (2) là 11,6m.

Từ tâm trục sau bA xe bên phải của xe ô tô (2) đến cột Km141+400 là 29m.

Cơ quan điều tra tiến hành dựng lại hiện trường vụ tai nạn giao thông. Kết quả dựng lại hiện trường phù hợp với kết quả khám nghiệm hiện hiện trường ban đầu.

Kết quả khám nghiệm dấu vết trên phƣơng tiện liên quan:

*) Xe ô tô bán tải biển số 81C-122.92:

Về giấy tờ xe: Xe ô tô bán tải biển số 81C-122.92 có giấy đăng ký xe theo quy định, chủ sở hữu là Ngô Văn A

Về dấu vết: Cản trước bên phải có nhiều vết trầy xước sơn diện (46x37)cm. Cụm đèn chiếu sang và đèn tín hiệu bên phải bị vỡ nát trong diện (5x27)cm. Gương chiếu hậu bên phải bị vỡ nát hoàn toàn, phần chân gương bị nứt vỡ diện (12x6)cm. Phần than xe bên phải tính từ ốp chắn bánh xe trục 01 đến mặt ngoài cánh cửa trước và mặt ngoài cánh cửa sau bên phải có vết trầy xước sơn trong diện (216x28)cm. Lốp bA xe trục 01 bên phải có vết trầy xước cao su diện (22x3)cm, tâm vết nằm trên chữ số „R16‟ trong dòng chữ số 265/70R16. Mặt ngoài vành bánh xe trục 01 bên phải có vết mài mòn kim loại diện (3x0,5)cm, tâm vết cách chân van 30cm theo chiều ngược kim đồng hồ.

*) Xe mô tô biển số 81T4-8861:

Về giấy tờ xe: Xe mô tô biển số 81T4-8861 bị thất lạc giấy đăng ký xe, qua xác minh, chủ sở hữu là Nguyễn Thị S, xe có dung tích Xi-lanh 113cm3

Về dấu vết: Gương chiếu hậu bên phải không có. Phần đầu tay cầm lái bên trái có vết mài mòn vỏ bọc cao su diện (3x3)cm. ½ Mặt nạ xe bên phải bị nứt vỡ diện (13x4)cm. Đèn tín hiệu phía trước bên trái bị nứt vỡ diện (12x1)cm. Mặt trước yếm chắn gió bên trái có vết trầy xước sơn rải rác diện (10x4)cm. Phần đầu gác để chân trước bên trái có vết mài mòn kim loại diện (1x1)cm, gác để chân bị di lệch từ trước ra sau 05cm so với vị trí ban đầu. Yên xe có gắn giá để chở hàng bằng kim loại và giỏ hàng bằng tre kích thước (60x30)cm, phần đầu giá để hàng có vết chà sáng kim loại diện (5x0,5)cm, tâm vết cách mặt đất 90cm.

Kết quả khám nghiệm hiện trường và khám nghiệm phương tiện, xác định được: Vị trí va chạm giữa xe ô tô bán tải do Ngô Văn A điều khiển với xe mô tô do bà Nguyễn Thị S điều khiển nằm ở phần đường bên trái theo hướng lưu thông của Ngô Văn A và bà Nguyễn Thị S. Điểm va chạm là phần đầu bên phải xe ô tô bán tải biển số 81C-122.92 với phần thân bên trái xe mô tô biển số 81T4-8861.

Kết quả khám nghiệm tử thi

Ngày 13/02/2023, Cơ quan điều tra tiến hành khám nghiệm tử thi đồng thời trưng cầu giám định nguyên nhân chết của Nguyễn Thị S. Tại bản Kết luận giám định tử thi số 196 ngày 13/3/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Gia Lai, kết luận: Nguyên nhân chết của bà Nguyễn Thị S do Chấn thương sọ não.

Xác minh điều kiện tham gia giao thông của người điều khiển phương tiện: Ngô Văn A có giấy phép lái xe ô tô hạng C. Nguyễn Thị S điều khiển xe mô tô biển số 81T4-8861 có dung tích Xi-lanh 113cm3 nhưng chưa có Giấy phép lái xe theo quy định. Ngô Văn A và bà Nguyễn Thị S không sử dụng rượu bia, chất kích thích.

Cơ quan điều tra tiến hành Yêu cầu định giá tài sản đối với thiệt hại hư hỏng của xe mô tô biển số 81T4-8861. Tại Bản kết luận định giá tài sản số 05 ngày 09/3/2023 của Hội đồng Định giá tài sản TTTHS huyện PT, xác định: Xe mô tô biển số 81T4-8861 tại thời điểm xảy ra tai nạn bị hư hỏng trị giá là 250.000đ (Hai trăm năm mươi nghìn đồng)

Căn cứ kết quả điều tra xác minh, ngày 24/3/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện PT, Gia Lai đã Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Ngô Văn A về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại Khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự, đồng thời Cơ quan điều tra cũng ra Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị can.

Quá trình điều tra, Ngô Văn A đã khai nhận toàn bộ hành vi điều khiển xe ô tô gây tai nạn giao thông, nội dung lời khai phù hợp với tài liệu, chứng cứ Cơ quan điều tra đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.

*Về vật chứng của vụ án:

Cơ quan điều tra đã tạm giữ phương tiện liên quan là xe ô tô bán tải biển số 81C-122.92 và xe mô tô biển số 81T4-8861. Xét thấy, việc trả lại phương tiện liên quan không ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án nên Cơ quan điều tra đã trao trả lại các phương tiện trên cho chủ sở hữu hợp pháp.

*Về dân sự:

Quá trình điều tra, Ngô Văn A đã tự nguyện thỏa thuận bồi thường thiệt hại cho gia đình bà Nguyễn Thị S về chi phí mai táng, tổn thất tinh thần và các chi phí khác với số tiền là 160.000.000đ (Một trăm sáu mươi triệu đồng). Đại diện gia đình bà Nguyễn Thị S đã nhận đủ số tiền bồi thường và đã có đơn xin bãi nại cho bị can.

Tại bản cáo trạng số 18/CT-VKS, ngày 14 tháng 7 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai đã truy tố bị cáo Ngô Văn A về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 BLHS.

Xử phạt bị cáo Ngô Văn A từ 01 năm tù đến 01 năm 03 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng, tính từ ngày tuyên án.

Về vật chứng: Đã giải quyết xong tại giai đoạn điều tra nên không đề cập xử lý.

Về dân sự: Đã giải quyết xong tại giai đoạn điều tra và không có yêu cầu gì khác nên không đề cập xử lý.

Về án phí: Buộc bị cáo Ngô Văn A phải nộp 200.000 đồng để sung quỹ Nhà nước.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng:

Cơ quan điều tra huyện PT, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện PT, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như sau: Khoảng 15h00‟ ngày 11/02/2023, Ngô Văn A đang điều khiển xe ô tô biển số 81C-122.92 lưu thông trên đường Quốc lộ 25 hướng (CSê đi AP) đến đoạn đường thuộc địa phận Thôn Ia Jut, xã IS, huyện Phú Thiện, lúc này có bà Nguyễn Thị S điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 81T4-8861 đang lưu thông đi phía trước cùng chiều. Để được vượt lên phía trước xe môtô của bà S, bị cáo đA tay lái chuyển hướng xe sang phần đường bên trái, đang vượt thì bất ngờ bà S chuyển hướng qua bên trái đường để về nhà, lúc qua đường bà S không bật xi nhan xe, không có tín hiệu qua đường, do quá gần nên không kịp tránh, không xử lý được dẫn đến tai nạn xảy ra. Hậu quả làm cho bà S bị thương nặng và đến ngày 13/02/2023, bà Nguyễn Thị S chết khi đang được cấp cứu tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Gia Lai. Tại bản Kết luận giám định tử thi số 196 ngày 13/3/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Gia Lai, kết luận: Nguyên nhân chết của bà Nguyễn Thị S do Chấn thương sọ não.

Như vậy lời khai của của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án như: Sơ đồ hiện trường, khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm phương tiện, bản ảnh hiện trường, khám nghiệm tử thi, Bản kết luận giám định pháp y,… Vậy, có đủ căn cứ khẳng định hành vi của bị cáo Ngô Văn A đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” tội phạm và hình phạt quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự. Xét cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội danh và điều khoản nêu trên là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự an toàn, sự hoạt động bình thường của quy tắc Luật lệ an toàn giao thông đường bộ, gây thiệt đến tính mạng của người khác được pháp luật bảo vệ. Trong vụ án này lỗi chính thuộc bị cáo điều khiển xe ô tô lấn sang phần đường bên trái để vượt xe phía trước nhưng thiếu chú ý quan sát, không đảm bảo an toàn và không giữ khoảng cách an toàn với xe đang lưu thông phía trước cùng chiều theo quy định tại Điều 12, Điều 14 Luật giao thông đường bộ do đó cần xử phạt bị cáo nghiêm tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi và hậu quả mà bị cáo gây ra mới đảm bảo sự giáo dục, trừng trj, răn đe và phòng ngừa cho xã hội sau này.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; trước khi phạm tội bị cáo có nhân thân tốt, không có vi phạm pháp luật.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo; ăn năn, hối cải về hành vi của mình; Sau khi phạm tội bị cáo đã bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 160.000.000 đồng; Gia đình bị hại đã nhận đủ tiền, có đơn xin bãi nại và đề nghị Tòa án cho bị cáo được hưởng án treo. Ngoài ra bị cáo phạm tội với lỗi vô ý; người bị hại cũng có một phần lỗi, cụ thể là: điều khiển xe chuyển hướng không đảm bảo an toàn, không quan sát kỹ trước khi chuyển hướng sang bên trái và không có giấy phép lái xe. Do đó, cần xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm b, s khoản 1Điều 51 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Cân nhắc tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Xét bị cáo có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ và có nơi cư trú ổn đinh, rõ ràng nên thấy không cần thiết buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù mà áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự cho bị cáo hưởng án treo và giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi các bị cáo cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách cũng đủ tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Ngô Văn A phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự.

Xử: Phạt bị cáo Ngô Văn A 12 (Mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 24 tháng tính từ ngày tuyên án hôm nay (ngày 23/8/2023).

Giao bị cáo Ngô Văn A cho Ủy ban nhân dân xã Ia Peng, huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai quản lý, giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp bị cáo Ngô Văn A có thay đổi nơi cư trú thì áp dụng Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo Ngô Văn A cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo theo quy định.

2. Về án phí:

- Căn cứ khoản 2 Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

- Căn cứ Điều 21, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội

Buộc bị cáo Ngô Văn A phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm để sung quỹ Nhà nước.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, bị cáo có quyền kháng cáo bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm. Người đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Gia Lai xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hA án dân sự, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hàn án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.

Cỡ chữ