- Tranh chấp gì? án hình sự — "Triệu Văn B - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG NĂNG TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| ------------ Bản án số: 23/2023/HSST Ngày 13/6/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG NĂNG
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Hán
- Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Sáu
2. Ông Phan Ngọc Đài
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Dung – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Krông Năng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Năng tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Thủy – Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 6 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Krông Năng, xét xử trực tuyến sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 27/2023/HSST ngày 29 tháng 5 năm 2023, đối với bị cáo:
Họ và tên: Triệu Văn B – Sinh năm 1976 tại tỉnh BK.
Nơi cư trú: Buôn C, xã E, huyện K, Đắk Lắk; nghề nghiệp: làm nông; trình độ học vấn: Không biết chữ; dân tộc: Dao. Con ông: Triệu Nhân N (chết); con bà: Mã Thị X. Vợ là Hoàng Thị Đ; có 02 con, lớn sinh năm 2003, nhỏ sinh năm 2005.
Nhân thân: Bản án số 56/2019/HSST ngày 23/9/2019 của Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh Đắk Lắk xử phạt Triệu Văn B 01 năm 03 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, đã chấp hành xong hình phạt.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/02/2023, hiện đang tạm giam (có mặt).
* Người bào chữa: Ông Phạm Công Minh – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Đắk Lắk bào chữa cho bị cáo (có mặt).
* Người làm chứng:
1. Anh Đinh Văn S (sinh năm 1998) – vắng mặt.
Trú tại: Thôn Giang Châu, xã Ea Dah, huyện Krông Năng, Đắk Lắk.
2. Anh Xổng A S (sinh năm 1984) – vắng mặt.
Trú tại: Thôn Giang Đông, xã Ea Dah, huyện Krông Năng, Đắk Lắk.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 23/02/2023 Triệu Văn B điều khiển xe mô tô không có biển kiểm soát của B đi từ nhà đến thôn Giang Đông, xã Ea Dah, huyện Krông Năng để tìm mua ma túy sử dụng. Đến nơi, B thấy 01 nam thiếu niên khoảng 12 tuổi, người dân tộc H’Mông (không rõ nhân thân, lai lịch) đang chăn trâu bên cạnh đường, B hỏi có biết chỗ bán ma túy không thì người thiếu niên nói có. B nhờ người này mua 500.000đ ma túy và trả tiền công 50.000đ. Người thiếu niên cầm tiền đi vào thôn Giang Đông khoảng 20 phút sau thì quay ra đưa cho B 01 gói nylon bên trong có chứa chất rắn màu trắng, B biết đó là ma túy nên cầm gói nylon rồi lên xe đi về. Khoảng 18h20 phút cùng ngày B bị lực lượng công an bắt quả tang tại khu vực thôn Giang Đông, xã Ea Dah, thu giữ trên tay trái của B 01 gói nylon bên trong chứa chất rắn màu trắng.
Tại Bản kết luận giám định số 281/GĐMT-PC09 ngày 01/3/2023 của của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Lắk kết luận: Chất rắn màu trắng bên trong 01 gói nylon màu xanh được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,8864 gam, loại heroin.
Bản cáo trạng số 27/CT-VKS ngày 25/5/2023 Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Năng truy tố bị cáo Triệu Văn B về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Kết quả xét hỏi tại phiên tòa, bị cáo Triệu Văn B khai nhận về hành vi của mình phù hợp như nội dung kết luận điều tra và bản cáo trạng đã truy tố.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và giữ nguyên quyết định truy tố. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt Triệu Văn B từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy 0,8062 gam heroin còn lại sau giám định.
Tịch thu chiếc xe môtô không có biển số đã thu giữ của bị cáo để sung công quỹ Nhà nước.
Người bào chữa cho bị cáo trình bày quan điểm bào chữa, cho rằng: việc truy tố và xét xử bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là có căn cứ, đúng người, đúng tội. Tuy nhiên bị cáo là người dân tộc thiểu số và không biết chữ nên nhận thức về pháp luật có phần hạn chế. Sau khi phạm tội, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; lượng ma túy bị cáo tàng trữ không lớn. Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS và áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 BLHS để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo ở mức đầu khung hình phạt.
Bị cáo không có ý kiến gì tham gia tranh luận, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Krông Năng và Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Năng và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người liên quan không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời khai nhận tội của bị cáo Triệu Văn B tại phiên tòa hôm nay về cơ bản là phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của những người biết sự việc và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Xét hành vi của bị cáo mua và tàng trữ 0,8864 gam heroin nhằm mục đích sử dụng là phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
* Tại Điều 249 Bộ luật hình sự quy định:
1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
a) ...;
c) Heroin... có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam.
2. ...
[3] Xét tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, không những đã xâm phạm đến sự độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các loại dược chất ma túy mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo nhận thức được rằng các loại dược chất ma túy đều thuộc sự độc quyền quản lý của Nhà nước, thông qua các cơ quan chức năng có thẩm quyền và phải tuân theo những trình tự, thủ tục nghiêm ngặt; mọi hành vi tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy đều bị trừng trị nghiêm khắc. Người nghiện ma túy là tự tàn phá sức khỏe, làm tổn hại giống nòi và còn là nguyên nhân làm lây truyền các căn bệnh xã hội, trong đó có đại dịch HIV/AIDS. Nhưng do ý thức coi thường pháp luật, bị cáo đã mua và tàng trữ 0,8864 gam heroin để sử dụng. Bị cáo có nhân thân xấu, đã từng bị kết án về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” nhưng không thể hiện sự ăn năn, hối cải lại tiếp tục thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Cho nên đối với bị cáo cần thiết phải áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định, có như vậy mới phát huy được tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và góp phần răn đe, phòng ngừa chung.
[4] Tuy nhiên, xét thấy sau khi phạm tội, tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo; bị cáo là người dân tộc thiểu số. Đây là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại Điều 51 của Bộ luật hình sự nên cần xem xét trong quá trình lượng hình để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo nhằm thể hiện chính sách khoan hồng, nhân đạo của pháp luật Nhà nước.
[5] Về xử lý vật chứng: Đối với số heroin (còn lại sau giám định) đã thu giữ của bị cáo cần tịch thu tiêu hủy.
[6] Đối với chiếc xe môtô (không có biển kiểm soát, không có vỏ xe), số máy 29JL1P52FMH003028 cơ quan điều tra đã thu giữ là phương tiện bị cáo sử dụng để đi mua ma túy, xét thấy chiếc xe không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
[7] Đối với người thiếu niên bị cáo B khai nhờ mua hộ ma túy hiện chưa xác minh được nhân thân, lai lịch nên chưa có căn cứ xử lý.
[8] Xét quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về tội danh và mức hình phạt áp dụng với bị cáo là phù hợp. Người bào chữa cho bị cáo tại phiên tòa đề nghị áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS do bị cáo là người dân tộc thiểu số là có căn cứ chấp nhận.
[9] Về án phí: Xét thấy bị cáo thuộc hộ nghèo và có đơn xin miễn án phí nên áp dụng quy định tại Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng xét xử miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Triệu Văn B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xử phạt Triệu Văn B 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam, ngày 24/02/2023.
* Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy 0,8062 gam heroin (còn lại sau giám định).
- Tịch thu tiêu hủy 01 xe môtô không có biển kiểm soát, không vỏ xe, số máy 29JL1P52FMH003028 đã thu giữ của bị cáo.
(Đặc điểm, số lượng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 29/5/2023 giữa cơ quan cảnh sát điều tra và Thi hành án dân sự huyện Krông Năng).
* Về án phí:
Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Triệu Văn B.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Đắk Lắk; - TAND tỉnh Đắk Lắk; - Sở tư pháp tỉnh Đắk Lắk; - VKSND huyện Krông Năng; - Công an huyện Krông Năng (02 bản); - Chi cục T.H.A.D.S huyện Krông Năng; - Bị cáo, người bào chữa; - Lưu HS, VPCQ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Xuân Hán |